Toàn văn bài chia tay xúc động của Tổng thống Obama
XIN CHÀO CHICAGO! THẬT VUI ĐƯỢC TRỞ VỀ NHÀ!
Tôi đến Chicago lần đầu tiên lúc hơn 20 tuổi, khi đó vẫn đang cố xác định xem tôi là ai, vẫn đang tìm kiếm mục đích của đời tôi. Tôi bắt đầu làm việc cho một nhóm ở nhà thờ không xa nơi đây, gần đó có các nhà máy thép đóng cửa.
Chính trên những con phố đó, tôi chứng kiến sức mạnh của niềm tin và phẩm giá không cần tô vẽ của những người lao động đang đối mặt với khó khăn và mất mát.
Lúc này đây, tôi hiểu rằng thay đổi chỉ xảy ra khi những con người bình thường cùng nhau tham gia, gắn kết, cùng nhau yêu cầu sự thay đổi.
Sau 8 năm làm tổng thống, tôi vẫn tin điều đó. Và đó không chỉ là niềm tin của tôi. Đó là nhịp đập trái tim của nước Mỹ, nơi chính phủ do người dân vận hành.
Đó là niềm tin rằng chúng ta sinh ra bình đẳng. Tạo hóa ban cho chúng ta những quyền không thể xâm phạm được, trong đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Đó là những quyền hiển nhiên.
Thông qua những công cụ của nền dân chủ, chúng ta - nhân dân Mỹ - có thể xây dựng một liên bang hoàn hảo hơn.
Đó là một ý tưởng cấp tiến, món quà tuyệt vời mà những người cha lập quốc đã trao tặng chúng ta. Chúng ta tự do theo đuổi những ước mơ của cá nhân bằng mồ hôi, công sức và trí tưởng tượng cũng như cùng nhau phấn đấu để đạt được những lợi ích chung, những điều tốt đẹp hơn nữa.
Trong 240 năm qua, đất nước chúng ta đã tạo việc làm, trao lý tưởng cho mỗi thế hệ mới đặt chân đến Mỹ. Đó là điều khiến những người yêu nước chọn chế độ cộng hòa thay vì chế độ độc tài, những người tiên phong đi khai phá miền tây, những nô lệ dũng cảm đến với tự do.
Cũng chính điều này đã thôi thúc người nhập cư và tị nạn vượt qua các đại dương và con sông Rio Grande (để tới Mỹ), khuyến khích phụ nữ bầu cử, tạo động lực cho công nhân làm việc. Vì đó mà binh lính Mỹ hy sinh mạng sống ở Omaha Beach, Iwo Jima, Iraq và Afghanistan. Vì đó mà những người đàn ông, phụ nữ từ Selma đến Stonewall không ngại ngần hy sinh.
Bởi vậy, chúng ta nói nước Mỹ đặc biệt. Không phải vì quốc gia của chúng ta hoàn mỹ ngay từ khi hình thành, mà bởi chúng ta cho thấy khả năng thay đổi, khiến cuộc sống của những người đi theo nước Mỹ tốt đẹp hơn.
Toan van bai chia tay xuc dong cua Tong thong Obama - Anh 1
Bài phát biểu của ông Obama tối 10/1 cũng đánh dấu bước tạm nghỉ trong sự nghiệp chính trị của vị nguyên thủ nổi tiếng với những bài hùng biện mạnh mẽ và nhiều hy vọng, ngay trong những thời điểm đen tối nhất.
NƯỚC MỸ ĐÃ MẠNH MẼ HƠN
Đúng vậy, sự tiến bộ của chúng ta không toàn diện. Thúc đẩy nền dân chủ luôn luôn khó khăn, gây tranh cãi, đôi khi còn dẫn đến đổ máu. Cứ tiến hai bước về phía trước, chúng ta lại cảm thấy như vừa lùi một bước. Thế nhưng hành trình dài của nước Mỹ đã được định nghĩa bằng việc tiến về phía trước, liên tục khai mở những niềm tin cốt lõi của chúng ta để cưu mang tất cả, và không chỉ có vậy.
8 năm trước, nếu tôi nói với các bạn rằng nước Mỹ có thể đảo ngược cuộc suy thoái, hồi sinh nền công nghiệp ôtô hay mở ra chuỗi tạo việc làm dài nhất trong lịch sử.
Nếu tôi nói với các bạn rằng nước Mỹ sẽ bắt đầu một chương mới trong quan hệ với Cuba, ngăn chặn chương trình hạt nhân Iran mà không tốn bất kỳ viên đạn nào, tiêu diệt đầu sỏ gây ra vụ khủng bố 11/9.
Nếu tôi nói với các bạn, chúng ta sẽ có được quyền bình đẳng trong hôn nhân cho mọi người và đảm bảo cho 20 triệu công dân có quyền được chăm sóc sức khỏe.
Nếu tôi nói với tất cả các bạn những điều đó, các bạn có thể cho rằng chúng ta đặt mục tiêu quá cao.
Thế nhưng đó là những điều chúng ta đã làm được. Đó là điều các bạn đã làm. Các bạn chính là sự thay đổi, câu trả lời cho sự hy vọng. Nhờ có các bạn, nước Mỹ đã trở nên mạnh mẽ và tốt đẹp hơn thời điểm chúng ta bắt đầu.
Trong 10 ngày nữa, thế giới sẽ chứng kiến một mốc son trong hành trình dân chủ của chúng ta: quá trình chuyển giao quyền lực diễn ra trong hòa bình giữa một tổng thống được người dân lựa chọn với người kế nhiệm. Tôi đã cam kết với Tổng thống đắc cử Trump rằng chính quyền của tôi sẽ đảm bảo tiến trình này diễn ra suông sẻ nhất có thể, như Tổng thống Bush từng làm với tôi.
Việc đảm bảo rằng chính phủ có thể giúp người dân vượt qua các thách thức hoàn toàn phụ thuộc vào tất cả chúng ta. Chúng ta có mọi điều cần thiết để làm điều đó, để đương đầu với những thử thách đó. Sau tất cả, chúng ta vẫn là một đất nước giàu có, mạnh mẽ và được tôn trọng trên thế giới.
Với sức trẻ, động lực, sự đa dạng, sự cởi mở và năng lực không giới hạn của chúng ta trong quá trình khám phá, tương lai nên thuộc về chúng ta. Song năng lực đó sẽ chỉ được công nhận khi nền dân chủ của chúng ta phát huy, khi chính trị Mỹ phản ánh tốt hơn nguyện vọng của người dân. Chỉ khi tất cả chúng ta, không phân biệt đảng phái hay lợi ích, cùng nhau khôi phục nhận thức về mục đích chung, điều mà chúng ta đang rất cần lúc này.
Và đó là điều tôi muốn tập trung vào tối nay: thực trạng nền dân chủ. Dân chủ không nhất thiết phải giống nhau cho tất cả. Những người lập quốc đã bàn luận, tranh cãi, cuối cùng thỏa hiệp với nhau. Họ hy vọng chúng ta sẽ làm điều tương tự. Họ cũng biết nền dân chủ đòi hỏi một nền tảng cơ bản của sự đoàn kết. Bỏ qua những khác biệt về hình thức, chúng ta đều là người dân nước Mỹ, cùng nhau hưng thịnh hay suy vong như một thể thống nhất.
Lịch sử đã chứng kiến những giai đoạn sự đoàn kết của chúng ta bị đe dọa. Giai đoạn đầu thế kỷ 21 là một trong số đó. Thế giới đang ngày càng thu hẹp, sự bất bình đẳng gia tăng, nhân khẩu học đang thay đổi và bóng ma của chủ nghĩa khủng bố đang bao trùm.
Đó không chỉ là bài kiểm tra với an ninh và thịnh vượng của Mỹ mà còn là thách thức với nền dân chủ của chúng ta. Cách chúng ta đối mặt với thách thức của nền dân chủ cũng chính là khả năng của chúng ta trong việc giáo dục trẻ em, tạo công ăn việc làm cũng như bảo vệ quê hương. Đây là điều quyết định tương lai của chúng ta.
Phải nói rằng, nền dân chủ của chúng ta sẽ không thể vận hành nếu thiếu đi nhận thức rằng bất kỳ ai cũng có cơ hội kinh tế. Tin tốt là nền kinh tế hiện nay đang tăng trưởng trở lại. Tiền lương, thu nhập, giá trị nhà và các khoản hưu trí đều tăng trở lại. Nghèo đói giảm xuống.
Giới giàu đang chi trả những khoản thuế công bằng. Thị trường chứng khoán thậm chí phá vỡ kỷ lục, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm. Tỷ lệ những người không có bảo hiểm thấp chưa từng có.
Chi phí chăm sóc sức khỏe đang tăng với tốc độ chậm nhất trong 50 năm. Nếu ai đó có thể đề xuất một kế hoạch tốt hơn những tiến bộ chúng ta đã đạt được trong hệ thống chăm sóc sức khỏe có thể bao trùm nhiều người với chi phí thấp nhất, tôi sẽ công khai ủng hộ nó.
Sau tất cả, đó là lý do chúng ta phục vụ, để làm cuộc sống của mọi người tốt hơn, không phải tệ đi. Với tất cả những cải thiện đã thực sự đạt được, chúng ta biết rằng như vậy là chưa đủ.
TỰ DO VÀ CÔNG BẰNG THƯƠNG MẠI
Nền kinh tế của chúng ta không hoạt động tốt hay phát triển nhanh nhờ vài thành tựu kinh tế của tầng lớp trung lưu đang tăng lên. Nhưng sự bất bình đẳng rõ rệt đang ăn mòn những nguyên tắc dân chủ của chúng ta.
Trong khi 1% ở trên đỉnh tích lũy được ngày càng nhiều của cải và thu nhập, rất nhiều gia đình, ở các đô thị và vùng nông thôn, đã bị bỏ lại phía sau – các công nhân nhà máy bị sa thải, những người phục vụ, nhân viên y tế đang vật lộn để trả các hóa đơn – họ bị thuyết phục rằng luật chơi đã bị sửa đổi để chống lại họ, rằng chính phủ của họ chỉ phục vụ lợi ích của những người quyền lực – một công thức mang lại sự hoài nghi và chia rẽ nhiều hơn cho nền chính trị của chúng ta. Không thể sửa đổi nhanh chóng xu hướng dài hạn này.
Tôi đồng ý rằng hoạt động thương mại của chúng ta nên công bằng chứ không chỉ tự do thôi. Nhưng làn sóng tiếp theo của sự bất ổn kinh tế sẽ không đến từ bên ngoài. Nó đến từ nhịp độ tự động hóa không ngừng tạo ra vô số sản phẩm, những việc làm lương tốt sẽ không còn nữa.
Vậy nên chúng ta phải hướng tới một xã hội gắn kết hơn – để đảm bảo tất cả trẻ em được hưởng sự giáo dục mà chúng cần, trao cho các công nhân sức mạnh đoàn kết để có thu nhập tốt hơn, cải thiện hệ thống an ninh xã hội phù hợp với lối sống hiện nay và cải cách hơn nữa luật thuế để các cá nhân và doanh nghiệp thu lợi nhiều nhất từ nền kinh tế mới không thể trốn tránh nghĩa vụ của họ với đất nước đã giúp họ thành công.
Chúng ta có thể tranh luận về cách tốt nhất nhằm đạt được những mục tiêu này. Nhưng chúng ta không thể tự mãn về bản thân những mục tiêu đó. Bởi nếu chúng ta không tạo ra cơ hội cho mọi người, sự bất mãn và chia rẽ làm trì trệ những tiến bộ của chúng ta sẽ chỉ trầm trọng hơn trong những năm tới.
Quan hệ giữa các chủng tộc
Mối đe dọa thứ 2 đối với nền dân chủ của chúng ta đã có từ thời lập quốc. Sau cuộc bầu cử của tôi, đã có những lời bàn luận về một nước Mỹ hậu phân biệt chủng tộc. Tầm nhìn đó dù được chuẩn bị tốt nhưng đã không bao giờ trở thành hiện thực. Bởi kỳ thị chủng tộc vẫn còn là một yếu tố kiên cố và gây chia rẽ trong xã hội của chúng ta.
Tôi đã sống đủ lâu để nhận thấy quan hệ giữa các chủng tộc đã tốt hơn so với 10, 20 hay 30 năm trước đây – bạn có thể thấy điều đó không chỉ trong những con số thống kê mà còn trong thái độ của những người Mỹ trẻ tuổi với lập trường chính trị đa dạng. Nhưng chúng ta vẫn chưa đến được nơi cần đến.
Sau tất cả, nếu mỗi vấn đề kinh tế đều được nhìn nhận là một cuộc đối chọi giữa những người Mỹ trung lưu da trắng chăm chỉ và những kẻ thiểu số không xứng đáng thì những người lao động thuộc mọi màu da sẽ bị bỏ lại, tranh giành nhau những phần dư thừa, trong khi những người giàu có tiến sâu hơn vào tòa tháp kiên cố của họ.
Nếu chúng ta từ chối đầu tư cho con cái của những người nhập cư, chỉ vì chúng không giống chúng ta, chúng ta giảm bớt triển vọng của chính con cái chúng ta – bởi vì những đứa trẻ da màu này sẽ góp phần mở rộng lực lượng lao động tại Mỹ. Và nền kinh tế của chúng ta không nhất thiết phải trở thành một trò chơi sát phạt lẫn nhau.
Năm ngoái, thu nhập của mọi tầng lớp đều tăng lên, bất kể màu da, độ tuổi hay giới tính.
Trong chúng ta phải duy trì luật chống phân biệt đối xử - trong việc thuê nhân công, nhà ở, giáo dục và hệ thống pháp luật hình sự. Đó là những gì mà Hiến pháp và những lý tưởng cao nhất của chúng ta đòi hỏi. Những trái tim phải thay đổi.
Nếu nền dân chủ của chúng ta hướng tới một quốc gia ngày càng đa dạng, mỗi người chúng ta phải luôn lưu tâm tới một trong những nhân vật vĩ đại nhất của tiểu thuyết Mỹ, Atticus Finch, người từng nói “Bạn không bao giờ thực sự hiểu một người cho đến khi bạn xem xét mọi thứ từ quan điểm của anh ta…cho đến khi bạn vào bên trong xác thịt anh ta và đi lại trong bộ dạng đó”.
Đối với người da đen và các nhóm thiểu số khác, điều này có nghĩa chúng ta phải định hình cuộc đấu tranh của riêng mình cho công lý đối với những thử thách mà rất nhiều người ở đất nước này đối mặt – người tị nạn, người nhập cư, người nghèo vùng nông thôn, người chuyển giới và cả những người đàn ông da trắng trung niên, những người mà nhìn từ bên ngoài thì tưởng như họ có mọi lợi thế nhưng họ lại nhận thấy cuộc sống của mình bị xáo trộn bởi những thay đổi về kinh tế, văn hóa và công nghệ.
Đối với người Mỹ da trắng, điều này có nghĩa là thừa nhận những ảnh hưởng của chế độ nô lệ và Jim Crow không đột nhiên biến mất trong những năm 60 và rằng khi những nhóm thiểu số bất mãn, họ không chỉ chống lại sự phân biệt chủng tộc và thực thi tính chính trị đúng đắn mà họ còn tiến hành biểu tình ôn hòa, họ không đòi hỏi được đối xử đặc biệt mà là sự đối xử công bằng mà những người lập quốc từng hứa hẹn.
Đối với người Mỹ bản địa, điều này gợi nhắc họ rằng định kiến về người nhập cư có thời nhắm tới người Ireland, Italy và Ba Lan.
Nước Mỹ không bị suy yếu bởi những người mới đến; họ theo đuổi niềm tin của đất nước này và làm cho nó vững chắc hơn.
Vì vậy, bất kể chúng ta đạt được địa vị nào, chúng ta phải nỗ lực hơn nữa; phải bắt đầu với tiền đề rằng những công dân khác cũng yêu nước như chúng ta; rằng họ cũng coi trọng gia đình và làm việc chăm chỉ như chúng ta; rằng con cái họ cũng háo hức, đầy hứa hẹn và đáng được yêu thương như con cái chúng ta.
Không điều gì trong số này là dễ dàng. Với nhiều người, thu vào vùng an toàn của mình khiến họ thấy an tâm hơn, cho dù đó là nơi sinh sống, khuôn viên trường học, công sở hay trên mạng xã hội, được bao quanh bởi những người giống mình, có cùng quan điểm chính trị và không bao giờ bài bác tính tự phụ của ta.
Sự gia tăng của lòng trung thành đảng phái thuần túy, sự phân tầng trong tăng trưởng kinh tế và phát triển khu vực, sự phân mảng của các kênh truyền thông để phù hợp với thị hiếu – tất cả khiến cho sự chia rẽ này trở nên bình thường, thậm chí là không thể tránh khỏi.
Càng ẩn nấp trong vùng an toàn của mình, chúng ta càng dễ chấp nhận những thông tin, dù đúng hay sai, phù hợp với quan điểm của ta, thay vì đưa ra ý kiến dựa trên bằng chứng bên ngoài. Xu hướng này đại diện cho mối đe dọa thứ 3 đối với nền dân chủ của chúng ta.
Chính trị là trận chiến của các tư tưởng, trong tiến trình của một cuộc tranh luận lành mạnh, chúng ta ưu tiên những mục tiêu khác nhau và có những cách thức khác nhau để đạt được chúng. Nhưng nếu không dựa trên cơ sở chung của những thực tế đúng đắn, không có sự sẵn lòng tiếp nhận những thông tin mới và thừa nhận rằng đối thủ của bạn có lý lẽ đúng đắn, rằng khoa học và lý trí cũng quan trọng, chúng ta sẽ tiếp tục nói mỗi người một đằng, việc tạo ra hiểu biết chung và thỏa hiệp sẽ là bất khả thi.
Chẳng phải điều đó đã khiến chính trị trở nên đáng chán?
Làm sao mà các quan chức được bầu ra lại giận dữ về tiền thâm hụt khi bàn tới chi tiêu cho giáo dục mầm non của trẻ em chứ không phải là khi giảm thuế cho các tập đoàn? Làm sao chúng ta có thể bỏ qua những thiếu sót đạo đức này trong đảng mình nhưng lại bắt bẻ khi đảng đối thủ làm điều tương tự? Việc thừa nhận theo chọn lọc các sự kiện thực tế không những thiếu trung thực mà còn là tự chuốc lấy thất bại. Bởi vì như mẹ tôi từng nói hiện thực có cách để đuổi theo ta.
Trách nhiệm với thế hệ tương lai
Hãy nhìn những thách thức mà biến đổi khí hậu đặt ra. Trong tám năm, chúng ta đã giảm thiểu sự phụ thuộc vào dầu nhập khẩu từ nước ngoài xuống một nửa, nhân đôi sản lượng năng lượng tái tạo, dẫn đầu thế giới cùng ký kết một thỏa thuận nhằm cứu lấy hành tinh này.
Nhưng nếu không hành động cứng rắn hơn, con cái chúng ta sẽ chẳng còn thời gian để bàn bạc về sự hiện hữu của biến đổi khí hậu. Chúng sẽ bận rộn với việc giải quyết các tác động của vấn đề này. Nhiều thảm họa thiên nhiên hơn, nền kinh tế tổn hại, làn sóng những người tị nạn do khí hậu đi tìm kiếm nơi ở mới.
Giờ là lúc tất cả chúng ta cùng thảo luận và tìm ra phương hướng giải quyết. Chối bỏ điều này không chỉ là phản bội thế hệ tương lai, mà còn là sự phản bội đối với tinh thần thiết yếu của nước Mỹ, đó là tinh thần đổi mới và sẵn sàng giải quyết vấn đề thực tế, chính điều đó là kim chỉ nam cho những người thành lập đất nước chúng ta.
Chính là tinh thần đó - thứ được sinh ra từ sự bừng tỉnh đưa Mỹ trở thành một cường quốc kinh tế. Tinh thần cất cánh từ những trạm không quân Kitty Hawk và Canaveral, tinh thần chữa lành bệnh tật và biến những chiếc máy tính trở nên nhỏ gọn, chính là tinh thần đó. Niềm tin vào lý lẽ và sự táo bạo, tính ưu việt của quyền và sức mạnh, đó là những thứ cho phép chúng ta vượt qua chủ nghĩa phát xít và độc tài trong thời kỳ Đại suy thoái, cho phép chúng ta tạo dựng một chế độ sau Thế chiến 2 cùng những nền dân chủ khác.
Một chế độ không chỉ dựa trên sức mạnh quân sự hay đảng phái, mà phải tuân theo các nguyên tắc, luật pháp, quyền con người, sự tự do, tự do tôn giáo và ngôn luận với các hội nhóm và nền báo chí độc lập.
Chế độ của chúng ta đang đứng trước thách thức. Đầu tiên là từ những kẻ bạo lực cuồng tín với danh nghĩa của Hồi giáo. Sau đó là từ những kẻ độc tài ở nước ngoài, những kẻ cho rằng thị trường tự do trong một nền dân chủ cởi mở và xã hội dân sự là mối đe dọa.
Mối đe dọa này đối với nền dân chủ của chúng ta còn nguy hại hơn một quả bom xe hơi phát nổ hay một quả tên lửa. Những con người sợ thay đổi. Họ sợ những người khác mình từ ngoại hình cho đến tôn giáo. Họ khinh bỉ luật pháp quy định trách nhiệm của những nhà lãnh đạo. Khăng khăng không chịu dung nạp ý kiến khác biệt và tư tưởng tự do. Họ tin rằng thanh gươm, khẩu súng, quả bom trong xe hơi hoặc cả một bộ máy tuyên truyền có thể phán xét đúng sai.
Nhờ lòng dũng cảm tuyệt vời của những người đàn ông và phụ nữa trong quân đội. Nhờ những nhà tình báo, nhà thực thi pháp luật và những nhà ngoại giao luôn hỗ trợ lực lượng của chúng ta… Không một tổ chức khủng bố nước ngoài nào thành công trong việc tấn công nước Mỹ trong 8 năm qua.
Vụ tấn công ở Boston, Orlando, San Bernardino và Ford Hood nhắc chúng ta về sự nguy hiểm của những kẻ cực đoan, cơ quan thực thi pháp luật vẫn làm việc hiệu quả và cảnh giác hơn bao giờ hết. Chúng ta đã tiêu diệt 10.000 kẻ khủng bố, trong đó có Bin Laden.
Liên minh toàn cầu chống lại tổ chức Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) mà Mỹ đang dẫn đầu đã tiêu diệt được nhiều lãnh đạo và lấy đi một nữa lãnh thổ của chúng. IS sẽ bị tiêu diệt. Những kẻ đe dọa nước Mỹ đều không có được sự an toàn. .
Gửi tới tất cả những ai đang và đã phục vụ trong quân đội, được làm Tổng tư lệnh của các bạn là vinh dự của đời tôi.
Tất cả chúng tôi nợ các bạn lòng biết ơn sâu sắc.
Nhưng, bảo vệ cuộc sống không chỉ là công việc của quân đội. Nền dân chủ có thể làm điều đó nếu bị đe dọa. Vì vậy với vai trò là công dân, chúng ta hãy duy trì cảnh giác đối với sự xâm lược từ bên ngoài, chúng ta phải chống lại sự suy yếu của những giá trị cốt lõi.
Đó là lý do trong tám năm qua tôi nỗ lực để tạo cơ sở pháp lý vững chắc hơn cho cuộc chiến chống khủng bố. Đó là lý do tại sao chúng ta chấm dứt tra tấn, triển khai đóng cửa nhà tù Guantanamo, cải cách pháp lý nhằm giám sát và bảo vệ quyền riêng tư cũng như tự do xã hội.
Đó là lý do tôi từ chối phân biệt đối xử với những người Hồi giáo tại Mỹ…
Họ cũng yêu nước chẳng kém gì chúng ta.
Đó là lý do chúng ta không thể rút lui khỏi cuộc chiến toàn cầu nhằm tạo dựng dân chủ, nhân quyền, quyền phụ nữ và quyền của những người trong cộng đồng LGBT.
Dù những nỗ lực ấy có hoàn hảo hay không, dù những giá trị ấy có bị phớt lờ, đó vẫn là một phần trong việc bảo vệ nước Mỹ. Cuộc chiến chống lại chủ nghĩa cực đoan, bè phái và sùng bái tinh thần là một phần của cuộc chiến chống độc tài và xâm lược dân tộc. Nếu phạm trù tự do và tôn trọng luật pháp bị thu hẹp trên thế giới này, nguy cơ chiến tranh giữa các quốc gia sẽ tăng cao, sự tự do của chúng ta sẽ bị đe dọa.
Vì vậy hãy cảnh giác, nhưng đừng sợ hãi. IS sẽ cố giết những người vô tội. Nhưng chúng không thể tiêu diệt nước Mỹ trừ khi chúng ta phản bội lại Hiến pháp và những nguyên tắc đã được đề ra.
Các đối thủ như Nga, Trung Quốc không thể tương xứng với tầm ảnh hưởng của chúng ta - trừ khi chúng ta từ bỏ mục đích chiến đấu của mình, và biến Mỹ thành một cường quốc đi bắt nạt các nước khác.
Đó là điều cuối cùng tôi muốn nói - nền dân chủ của chúng ta bị đe dọa bất cứ khi nào chúng ta cho rằng nó là một sự hiển nhiên.
Tất cả chúng ta, không phân biệt đảng phái, nên tự nhận thức về nhiệm vụ xây dựng thể chế dân chủ.
Khi tỷ lệ bầu cử ở Mỹ nằm ở mức thấp so với những nền dân chủ khác, hãy biến việc đi bỏ phiếu trở nên dễ dàng hơn.
Khi niềm tin vào thể chế lung lay, chúng ta nên giảm thiểu tác động của đồng tiền đối với nền chính trị, và giữ vững nguyên tắc minh bạch, đạo đức trong công tác phục vụ người dân.
Khi Quốc hội rối ren, chúng ta nên động viên các chính trị gia từ các bang tham gia và tránh cực đoan.
Nhưng xin các bạn nhờ rằng chẳng có gì tự xảy ra cả. Tất cả những điều này phụ thuộc vào sự tham gia của các bạn; phụ thuộc vào việc chúng ta chấp nhận trách nhiệm công dân của mình, không phân biệt quyền lực đang xoay theo hướng nào.
Hiến pháp của chúng ta là một món quà tuyệt vời và đáng chú ý. Nhưng nó cũng chỉ là một mẩu giấy, bản thân nó không mang quyền lực. Chúng ta, người Mỹ, đem quyền lực tới cho mẩu giấy ấy.
Chúng ta, người Mỹ, cho nó ý nghĩa - với sự tham gia của chúng ta, với những lựa chọn và những đồng minh chúng ta theo đuổi.
Chúng ta có đứng lên vì tự do của mình hay không. Chúng ta có tôn trọng và thực thi pháp luật hay không, đó là lựa chọn của chính chúng ta. Nước Mỹ không hề mong manh. Nhưng chẳng gì có thể đảm bảo những thành quả của hành trình đi đến tự do mà chúng ta vẫn theo đuổi.
Lời tri ân đặc biệt
Trong thông điệp chia tay, Tổng thống George Washington cho rằng chính quyền tự trị là nền tảng cho sự an toàn, thịnh vượng, tự do, nhưng “những nguyên nhân khác nhau từ những nơi khác nhau sẽ gây ra nhiều đau khổ… để làm suy yếu niềm tin của bạn”.
Michelle! ... Trong suốt 25 năm qua, em không chỉ là vợ anh, mẹ của các con anh mà còn là người bạn tốt nhất của anh. Em đã đảm nhận một vai trò mà em chưa từng đòi hỏi và hoàn thành nó bằng sự duyên dáng mà vẫn gan góc, với phong cách và khiếu hài hước của riêng em.
Joe Biden!... Ông là lựa chọn đầu tiên của tôi cho nội các và cũng là người giỏi nhất. Không chỉ vì Ông là một phó tổng thống tuyệt vời mà còn vì tôi đã có thêm một người anh trai với cuộc mặc cả này.
Tôi thực sự có một yêu cầu cuối cùng cho các bạn với tư cách tổng thống. Điều này tương tự điều tôi yêu cầu khi các bạn đánh cược vào tôi 8 năm trước. Tôi muốn các bạn giữ vững niềm tin. Không phải tin vào khả năng mang đến thay đổi của tôi, mà mà tin vào chính khả năng của các bạn.
Đúng, chúng ta có thể
Đúng, chúng ta đã làm được
Đúng, chúng ta có thể
Cảm ơn các bạn! Chúa phù hộ các bạn và nước Mỹ!
Thursday, January 12, 2017
Đại Tá Lục quân Hoa kỳ Tôn Thất Tuấn
Giao Chỉ, San Jose.
Tùy viên quốc phòng Hoa Kỳ tại Hà Nội đến thăm San Jose Tuần qua Việt Museum đã có dịp đón tiếp riêng đại tá Tôn Thất Tuấn hiện là đương kim tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội. Vào lúc 10 giờ sáng ngày thứ tư 11 tháng 1 năm 2017. Nhân dịp này ông Tuấn trình bày đặc biệt về việc trùng tu Nghĩa Trang quân đội Biên Hòa.
Đại tá Tuấn là con trai một sĩ quan ngành Quân Cụ QLVNCH. Hiện là người giữ chức vụ quan trọng trong ngành ngoại giao và quốc phòng Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ mời một số quan khách giới hạn, quan tâm và hiểu biết về đề tài. Đặc biệt buổi họp mặt có sự hiện diện của ông Nguyễn Đức Cường, nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH, giáo sư âm nhạc Trần Nhật Hiền, ông Lê Thái Phúc, đại diện hội Hải quân và Liên Hội cựu chiến sĩ, giáo sư Vũ Công Hiển Hội nhiếp ảnh Trúc Viên. Trung tá Công Binh Vũ Thượng Đôn, Trung tá Đỗ Hữu Nhơn, lực lượng đặc biệt. Về phía TV và báo chí có sự tham dự của ông Huỳnh Lương Thiện và Việt Vùng vịnh từ San Francisco. Ông Vũ Nhân SBTN. Hậu duệ VNCH và chuyện Nghĩa trang. Trong chuyện viếng thăm đặc biệt Viet Museum đại tá Tuấn đi cùng vợ là bà Thu Hà con gái của đại tá không quân VNCH quê miền Hậu Giang. Hai ông bà đã có các con trưởng thành. Riêng con trai cũng là đại úy lục quân Hoa Kỳ. Hoàn cảnh của đại tá Tuấn hết sức liên quan đến ý nghĩa của Viện bảo tàng Thuyền Nhân và VNCH. Ông là thuyền nhân 16 tuổi và là hậu duệ của gia đình chiến binh miền Nam. Đặc biệt trong chức vụ hiện nay ông là người quan tâm và có cơ hội góp phần trực tiếp vào việc bảo tồn Nghia Trang Biên Hòa. Trong phạm vi giới hạn vì chức vụ không cho phép nên ông chỉ có thể thông báo vắn tắt một vài con số cụ thể. Tổng số phần mộ hiện nay còn lại trên 10 ngàn so với con số 16 ngàn được ghi lại trong tác phẩm của cơ quan IRCC phát hành năm 1993. Các phần mộ trùng tu được 5700 ngôi mộ. Mỗi ngày con số này gia tăng. Ông cũng gợi ý sau này Viet Museum có cơ hội đưa tất cả tin tức vào mạng điện toán có danh tính tử sĩ nào còn tài liệu ngõ hầu các gia đình và chiến hữu có thể tham khảo. Đồng thời về việc đóng góp, ông cho biết nên liên lạc thẳng với hội VAF do ông Nguyễn Đặc Thành là cơ quan đã mở đường và còn tiếp tục lâu dài. Đại tá Tuấn cho biết điều khó khăn là bước đầu trùng tu được trên 200 phần mộ đầu tiên mấy năm trước. Mặc dù có nhiều ý kiến khác biệt nhưng chỉ trong vài năm mà đồng bào từ khắp nơi đã âm thầm đóng góp từ Mỹ. Pháp, Canada và ngay cả Úc châu đạt được nửa đường. Trùng tu được tất cả các phần mộ hiện nay và tiếp tục bảo toàn lâu dài là đạt được mục tiêu căn bản. Đặc biệt có sự hiện diện của trung tá Đỗ hữu Nhơn thông báo các tin tức về việc đóng góp trực tiếp tại San Jose trong phạm vi liên hội cựu quân nhân và gia đình ông hoàn tất trên 300 phần mộ và sẽ còn nỗ lực tiến tới con số 500 trong tương lai.
Trong buổi nói chuyện rất riêng tư nhưng cũng có nhiều tin tức rất lý thú về vai trò của một người lính Mỹ gốc Việt trong cấp bậc đại tá tùy viên tại Hà Nội nhưng vì còn tại chức nên không thuận tiện thu hình và tường thuật. Rất mong một thời gian sau chúng ta có thể đọc được hồi ký về một đại tá thuyền nhân trong nhiệm kỳ tuỳ viên Hoa Kỳ 3 năm tại Hà Nội. Sau đây để quý độc giả có thể biết rõ hơn về đại tá Tôn Thất Tuấn, tôi xin gửi đến bà con các tài liệu của ông BMH đã phổ biến từ DC. Qua tài liệu này, khán giả có thể ghi nhận được người thiếu niên thuyền nhân Tôn Thất miền Trung xứng đáng là hậu duệ của QLVNCH. Trong hoàn cảnh hết sức tế nhị hiện bỏ tâm huyết lo cho nơi yên nghỉ cuối cùng của các tử sĩ miền Nam. Rất mong rằng ông hoàn tất được sứ mạng căn bản trong nhiệm kỳ hiện nay.
ĐẠI TÁ TÔN THẤT TUẤN (TÙY VIÊN QUỐC PHÒNG-TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM) Bài của BMH, VA.
Bộ quốc phòng Hoa Kỳ vừa bổ nhiệm Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn làm Tùy viên Quốc phòng Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Việt Nam kể từ 30/9/2015, thay thế cho Đại tá Lục quân Earnest Lee, vừa mãn nhiệm kỳ trở về Bộ Quốc Phòng nhận nhiệm vụ mới. Trước Đại tá Tôn Thất Tuấn có Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Patrick D. Reardon, tên Việt Nam Nguyễn Đức Độ là Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên tại Hà Nội từ năm 2009-2012. Văn phòng Tùy viên Quốc phòng Tòa Đại sứ Hòa Kỳ tại Việt Nam chịu trách nhiệm hỗ trợ trong việc phối hợp thực hiện chính sách quân sự của Hoa Kỳ, đồng thời là đại diện cho Bộ trưởng Quốc phòng, và Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, và các cơ quan quân sự khác của Hoa Kỳ. Do đó, Đại tá Tùy viên Quốc phòng chịu trách nhiệm phân tích và tường trình về những diễn biến quân sự tại Việt Nam, những vấn đề an ninh đang diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới. Những thông tin này được sử dụng để đưa ra những chính sách quân sự đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Văn phòng Tùy viên Quốc phòng cũng phối hợp tất cả các hoạt động về an ninh giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam tại các diễn đàn song phương và đa phương, cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động quân sự.
Đại tá Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn định cư Hoa Kỳ vào năm 1977 lúc đã 16 tuổi. Sau khi hoàn tất Đại học Southeastern Oklahoma State University, ông theo đuổi ước mơ phục vụ trong quân đội và trở thành một binh sĩ vào năm 1986. Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của ông là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 30, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 3 Bộ binh. Năm 1989, ông theo thụ huấn khóa sĩ quan, và trở thành một sĩ quan bộ binh. Từ đó ông lần lượt thuyên chuyển phục vụ tại các đơn vị như: Sư đoàn 101 nhảy dù (101st Airborne Division), Sư đoàn 1 Thiết kỵ (1st Cavalry Division), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command), Lực lượng hỗn hợp tìm kiếm tù binh và quân nhân Hoa Kỳ mất tích/Bộ quốc phòng (Defense POW/MIA Accounting Agency) v.v…
Đại tá Tôn Thất Tuấn đã từng phục vụ và chiến đấu tại Kuwait, Iraq và biên giới Afghanistan-Pakistan. Ông được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Bronze Star Medal, Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, Parachute Badge, Air Assault Badge, and Combat Infantryman Badge. Ông được thăng cấp Đại tá vào năm 2012.
Trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa Được sự đồng ý của Đại tá Tôn Thất Tuấn, xin chuyển đến Quý Vị lá thư ngắn của Ông gởi cho Hội Biệt Động Quân vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận, dù vắn tắt nhưng cũng nói lên sự quan tâm đặc biệt của Ông sau lần đi thăm mới nhất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông cũng cho biết cuộc thăm viếng Nghĩa trang mới đây của đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius vào ngày 16/10/2015. Đồng thời ông cũng gởi kèm tài liệu, hình ảnh mới nhất của những mộ phần của tử sĩ QLVNCH, và việc trùng tu Nghĩa Trang trong thời gian qua của Hội Vietnamese American Foundation (VAF)…
Kèm theo là phần thông báo về buổi tiếp xúc với đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Ted Osius của VAF… và đặc biệt lá thư đại sứ Ted Osius gởi nhị vị dân biểu thuộc Ủy ban Ngoại Giao Hạ viện Hoa Kỳ sau khi Ông đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Xin mời Qúy Vị theo dõi để tường và tùy nghi thẩm định..
BMH Washington, D.C
Tùy viên quốc phòng Hoa Kỳ tại Hà Nội đến thăm San Jose Tuần qua Việt Museum đã có dịp đón tiếp riêng đại tá Tôn Thất Tuấn hiện là đương kim tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội. Vào lúc 10 giờ sáng ngày thứ tư 11 tháng 1 năm 2017. Nhân dịp này ông Tuấn trình bày đặc biệt về việc trùng tu Nghĩa Trang quân đội Biên Hòa.
Đại tá Tuấn là con trai một sĩ quan ngành Quân Cụ QLVNCH. Hiện là người giữ chức vụ quan trọng trong ngành ngoại giao và quốc phòng Hoa Kỳ. Chúng tôi chỉ mời một số quan khách giới hạn, quan tâm và hiểu biết về đề tài. Đặc biệt buổi họp mặt có sự hiện diện của ông Nguyễn Đức Cường, nguyên tổng trưởng kinh tế VNCH, giáo sư âm nhạc Trần Nhật Hiền, ông Lê Thái Phúc, đại diện hội Hải quân và Liên Hội cựu chiến sĩ, giáo sư Vũ Công Hiển Hội nhiếp ảnh Trúc Viên. Trung tá Công Binh Vũ Thượng Đôn, Trung tá Đỗ Hữu Nhơn, lực lượng đặc biệt. Về phía TV và báo chí có sự tham dự của ông Huỳnh Lương Thiện và Việt Vùng vịnh từ San Francisco. Ông Vũ Nhân SBTN. Hậu duệ VNCH và chuyện Nghĩa trang. Trong chuyện viếng thăm đặc biệt Viet Museum đại tá Tuấn đi cùng vợ là bà Thu Hà con gái của đại tá không quân VNCH quê miền Hậu Giang. Hai ông bà đã có các con trưởng thành. Riêng con trai cũng là đại úy lục quân Hoa Kỳ. Hoàn cảnh của đại tá Tuấn hết sức liên quan đến ý nghĩa của Viện bảo tàng Thuyền Nhân và VNCH. Ông là thuyền nhân 16 tuổi và là hậu duệ của gia đình chiến binh miền Nam. Đặc biệt trong chức vụ hiện nay ông là người quan tâm và có cơ hội góp phần trực tiếp vào việc bảo tồn Nghia Trang Biên Hòa. Trong phạm vi giới hạn vì chức vụ không cho phép nên ông chỉ có thể thông báo vắn tắt một vài con số cụ thể. Tổng số phần mộ hiện nay còn lại trên 10 ngàn so với con số 16 ngàn được ghi lại trong tác phẩm của cơ quan IRCC phát hành năm 1993. Các phần mộ trùng tu được 5700 ngôi mộ. Mỗi ngày con số này gia tăng. Ông cũng gợi ý sau này Viet Museum có cơ hội đưa tất cả tin tức vào mạng điện toán có danh tính tử sĩ nào còn tài liệu ngõ hầu các gia đình và chiến hữu có thể tham khảo. Đồng thời về việc đóng góp, ông cho biết nên liên lạc thẳng với hội VAF do ông Nguyễn Đặc Thành là cơ quan đã mở đường và còn tiếp tục lâu dài. Đại tá Tuấn cho biết điều khó khăn là bước đầu trùng tu được trên 200 phần mộ đầu tiên mấy năm trước. Mặc dù có nhiều ý kiến khác biệt nhưng chỉ trong vài năm mà đồng bào từ khắp nơi đã âm thầm đóng góp từ Mỹ. Pháp, Canada và ngay cả Úc châu đạt được nửa đường. Trùng tu được tất cả các phần mộ hiện nay và tiếp tục bảo toàn lâu dài là đạt được mục tiêu căn bản. Đặc biệt có sự hiện diện của trung tá Đỗ hữu Nhơn thông báo các tin tức về việc đóng góp trực tiếp tại San Jose trong phạm vi liên hội cựu quân nhân và gia đình ông hoàn tất trên 300 phần mộ và sẽ còn nỗ lực tiến tới con số 500 trong tương lai.
Trong buổi nói chuyện rất riêng tư nhưng cũng có nhiều tin tức rất lý thú về vai trò của một người lính Mỹ gốc Việt trong cấp bậc đại tá tùy viên tại Hà Nội nhưng vì còn tại chức nên không thuận tiện thu hình và tường thuật. Rất mong một thời gian sau chúng ta có thể đọc được hồi ký về một đại tá thuyền nhân trong nhiệm kỳ tuỳ viên Hoa Kỳ 3 năm tại Hà Nội. Sau đây để quý độc giả có thể biết rõ hơn về đại tá Tôn Thất Tuấn, tôi xin gửi đến bà con các tài liệu của ông BMH đã phổ biến từ DC. Qua tài liệu này, khán giả có thể ghi nhận được người thiếu niên thuyền nhân Tôn Thất miền Trung xứng đáng là hậu duệ của QLVNCH. Trong hoàn cảnh hết sức tế nhị hiện bỏ tâm huyết lo cho nơi yên nghỉ cuối cùng của các tử sĩ miền Nam. Rất mong rằng ông hoàn tất được sứ mạng căn bản trong nhiệm kỳ hiện nay.
ĐẠI TÁ TÔN THẤT TUẤN (TÙY VIÊN QUỐC PHÒNG-TÒA ĐẠI SỨ HOA KỲ TẠI VIỆT NAM) Bài của BMH, VA.
Bộ quốc phòng Hoa Kỳ vừa bổ nhiệm Đại tá Lục quân Hoa Kỳ gốc Việt Tôn Thất Tuấn làm Tùy viên Quốc phòng Tòa đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội Việt Nam kể từ 30/9/2015, thay thế cho Đại tá Lục quân Earnest Lee, vừa mãn nhiệm kỳ trở về Bộ Quốc Phòng nhận nhiệm vụ mới. Trước Đại tá Tôn Thất Tuấn có Đại tá Lục quân Hoa Kỳ Patrick D. Reardon, tên Việt Nam Nguyễn Đức Độ là Tùy viên Quốc phòng Hoa Kỳ gốc Việt đầu tiên tại Hà Nội từ năm 2009-2012. Văn phòng Tùy viên Quốc phòng Tòa Đại sứ Hòa Kỳ tại Việt Nam chịu trách nhiệm hỗ trợ trong việc phối hợp thực hiện chính sách quân sự của Hoa Kỳ, đồng thời là đại diện cho Bộ trưởng Quốc phòng, và Tư lệnh Quân đội Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, và các cơ quan quân sự khác của Hoa Kỳ. Do đó, Đại tá Tùy viên Quốc phòng chịu trách nhiệm phân tích và tường trình về những diễn biến quân sự tại Việt Nam, những vấn đề an ninh đang diễn ra trong khu vực và trên toàn thế giới. Những thông tin này được sử dụng để đưa ra những chính sách quân sự đối với Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Văn phòng Tùy viên Quốc phòng cũng phối hợp tất cả các hoạt động về an ninh giữa quân đội Hoa Kỳ và quân đội Việt Nam tại các diễn đàn song phương và đa phương, cũng như trong mọi lĩnh vực hoạt động quân sự.
Đại tá Tôn Thất Tuấn, một thuyền nhân tị nạn định cư Hoa Kỳ vào năm 1977 lúc đã 16 tuổi. Sau khi hoàn tất Đại học Southeastern Oklahoma State University, ông theo đuổi ước mơ phục vụ trong quân đội và trở thành một binh sĩ vào năm 1986. Đơn vị đầu tiên trong đời quân ngũ của ông là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 30, Lữ đoàn 3, Sư đoàn 3 Bộ binh. Năm 1989, ông theo thụ huấn khóa sĩ quan, và trở thành một sĩ quan bộ binh. Từ đó ông lần lượt thuyên chuyển phục vụ tại các đơn vị như: Sư đoàn 101 nhảy dù (101st Airborne Division), Sư đoàn 1 Thiết kỵ (1st Cavalry Division), Bộ tư lệnh Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command), Lực lượng hỗn hợp tìm kiếm tù binh và quân nhân Hoa Kỳ mất tích/Bộ quốc phòng (Defense POW/MIA Accounting Agency) v.v…
Đại tá Tôn Thất Tuấn đã từng phục vụ và chiến đấu tại Kuwait, Iraq và biên giới Afghanistan-Pakistan. Ông được ân thưởng nhiều huy chương cao quý như: Bronze Star Medal, Defense Meritorious Service Medal with 2nd Oak Leaf, Meritorious Service Medal, Department of State Meritorious Honor Award, Ranger Tab, Parachute Badge, Air Assault Badge, and Combat Infantryman Badge. Ông được thăng cấp Đại tá vào năm 2012.
Trùng tu Nghĩa trang Quân đội Biên Hòa Được sự đồng ý của Đại tá Tôn Thất Tuấn, xin chuyển đến Quý Vị lá thư ngắn của Ông gởi cho Hội Biệt Động Quân vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận, dù vắn tắt nhưng cũng nói lên sự quan tâm đặc biệt của Ông sau lần đi thăm mới nhất Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Ông cũng cho biết cuộc thăm viếng Nghĩa trang mới đây của đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Ted Osius vào ngày 16/10/2015. Đồng thời ông cũng gởi kèm tài liệu, hình ảnh mới nhất của những mộ phần của tử sĩ QLVNCH, và việc trùng tu Nghĩa Trang trong thời gian qua của Hội Vietnamese American Foundation (VAF)…
Kèm theo là phần thông báo về buổi tiếp xúc với đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Ted Osius của VAF… và đặc biệt lá thư đại sứ Ted Osius gởi nhị vị dân biểu thuộc Ủy ban Ngoại Giao Hạ viện Hoa Kỳ sau khi Ông đến thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa. Xin mời Qúy Vị theo dõi để tường và tùy nghi thẩm định..
BMH Washington, D.C
Wednesday, January 11, 2017
Vai trò của nước trong dinh dưỡng
Bác Sĩ Nguyễn Ý Ðức - January 10, 2017
Nước là chất lỏng không màu, không mùi có ở trạng thái tự nhiên trong lòng đất, ao hồ, sông, biển. Thực phẩm như rau trái, thịt cá cũng có một lượng nước đáng kể. Về phương diện dinh dưỡng, nước là chất tương đối quan trọng hơn cả trong sáu nhóm chất dinh dưỡng cần cho sự sống của con người. Ta có thể nhịn ăn vài tháng nhưng không có nước thì chỉ mươi ngày là có nguy cơ tử vong. Thành phần hóa học Về cấu tạo hóa học, nước gồm hai phân tử Hydrogen và một phân tử Oxygen. Thực ra, nguồn nước trong tự nhiên không hoàn toàn tinh khiết, mà luôn có pha lẫn một số chất khác. Tùy theo mức độ hiện diện của các chất này mà ta có nguồn nước mềm hay nước cứng:
– Nước cứng (Hard water) là nước có nhiều tạp chất như calci, magnesium, sắt, iod. Nước cứng để yên thường lắng xuống nhiều cặn, có thể làm nghẹt ống dẫn nước, khi nấu nướng có thể để lại chất lắng trong nồi hoặc khi giặt rửa với xà bông thì không sủi bọt và thường để lại vết trắng trên quần áo. Calci trong nước cứng đôi khi cung cấp tới 20% nhu cầu hàng ngày. Vì thế, dân chúng sống ở vùng nước cứng thường có bộ xương cứng chắc hơn.
– Nước mềm (Soft water) là nguồn nước tương đối ít tạp chất, có một ít natri, muối khoáng. Nước mềm không để lại cặn và khi dùng giặt rửa với xà bông thì sủi bọt nhiều. Nguồn gốc nước uống Nguồn nước uống có thể là nước ngầm dưới đất hoặc trong sông, hồ, suối… Tùy theo phẩm chất, nước uống có thể dùng ở dạng tự nhiên hay đã được chế biến.
a) Nước thiên nhiên Nước có thể bị ô nhiễm với cặn bã sinh vật, thảo mộc, hóa chất trừ sâu, phân bón, chất thải kỹ nghệ và làm thay đổi mùi vị cũng như độ trong suốt của nước. Nước cần được khử trùng bằng chlor, đun sôi, hay lọc để diệt các vi sinh vật gây bệnh. Thông thường nhất là vi khuẩn Giardia Lamblia có nhiều trong nước suối, nước hồ, đôi khi vẫn còn sống sót dù đã qua khử trùng. Vi khuẩn này gây bệnh tiêu chảy, đau bụng, mệt mỏi, ăn mất ngon. Tại nhiều quốc gia, nước được tăng cường chất fluor để ngừa hư răng. Sự fluor hóa được áp dụng đầu tiên vào năm 1945 tại thành phố Grand Rapids, Michigan, và đã dẫn đến nhiều ý kiến trái ngược về sự có ích hoặc không có ích của nước có bổ sung fluor. Nhưng kể từ ngày bổ sung fluor, tỉ lệ hư răng giảm xuống. Ngày nay fluor còn được cho thêm trong kem đánh răng hoặc viên để uống. Các trường y nha khoa, các hiệp hội y học đều hỗ trợ và khuyến khích bổ sung khoáng fluor này. Nhưng nếu fluor quá cao thì lại không tốt cho răng. Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 10 tháng 1 năm 2017
b) Nước đóng chai Ngoài nước diệt trùng bằng chlor, còn có nước đóng chai. Dạng nước này được khử trùng bằng chất ozone, một loại oxy mạnh (O3), đồng thời được pha thêm carbon dioxide và bổ sung một số khoáng chất. Do đó, nước đóng chai có mùi vị hấp dẫn hơn và cũng tốt hơn cho cơ thể. Dạng nước này rất tiện lợi nhưng giá thành khá cao so với nước thiên nhiên. Ngoài ra người ta cũng đóng chai các nguồn nước khoáng trong tự nhiên có chứa nhiều khoáng chất quý giá có lợi cho sức khỏe, chẳng hạn như nước khoáng Kim Bôi (Hòa Bình), nước khoáng Bang (Quảng Bình), nước khoáng Thạch Bích (Quảng Ngãi), suối khoáng Hội Vân (Bình Ðịnh), Vĩnh Hảo (Bình Thuận), Dục Mỹ (Nha Trang, Khánh Hòa)…
c) Nước ngọt có gas Kỹ nghệ sản xuất nước ngọt có gas cung cấp các loại nước ngọt có hương vị khác nhau nhưng nói chung đều bổ sung vào nước đã diệt trùng các chất như đường, chất tạo ga (carbonat) và các chất phụ gia tạo hương vị như caffein, caramel, chất tạo màu hóa học, nước trái cây. Sự tiêu thụ nước ngọt có ga ngày một gia tăng và là mối quan tâm của các nhà dinh dưỡng. Ðã có nhiều nghiên cứu cho là dùng nhiều nước ngot sẽ đưa tới phì mập, nhất là ở trẻ em. Ngoài các loại nước uống, rau, trái cây và một số thực phẩm cũng cung cấp một lượng nước đáng kể. Có loại rau trái chứa tới trên 90% nước.
Sau đây là tỉ lệ nước trong một số thực phẩm:
- Cần tây 95%
-Nấm 92%
-Dưa hấu 92%
-Rau broccoli 91%
-Trái táo 84%
-Nho 81%
Một điểm đặc biệt là nước cung cấp từ rau trái có nhiều khoáng chất hữu cơ mà cơ thể ta rất cần. Vai trò của nước trong cơ thể Nước chiếm khoảng 65% tổng số trọng lượng cơ thể. Một người cân nặng 60 kg (khoảng 130 lb) có trên 45 kg (gần 100lb) nước. Tỉ lệ nước còn tùy vào độ tuổi: càng ít tuổi thì tỉ lệ nước nước càng cao. Bào thai năm tháng có 85% nước, trẻ sơ sinh có 75%, và khi trưởng thành còn 65%. Nhu cầu nước cũng cao hơn ở trẻ em so với người lớn tuổi.
Nước trong cơ thể phân phối theo hai khu vực chính: Trong các tế bào chiếm từ 65% tới 80%. Ngoài tế bào, như trong huyết tương (4%); ruột, bao tử (15%); ở mắt, não, khớp xương (2%). Mỗi thành phần cơ thể lại có một tỉ lệ nước khác nhau tùy theo nhu cầu riêng của thành phần đó. Trong nước miếng 95%, dịch bao tử 95.5%, não có 86% nước, thận có 83%; xương có 22%; cơ tim có 79% nước. Bắp thịt có nhiều nước hơn tế bào mỡ. Cho nên người có bắp thịt nở nang thì có nhiều nước hơn người béo phì. Và khi tế bào mỡ lên cao thì nước giảm xuống. Chỉ cần thiếu hoặc dư nước chừng vài phần trăm là đã có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Nếu nước trong cơ thể giảm đến 20% thì tử vong có thể xẩy ra. Phần lớn nước thừa được ra trong nước tiểu, số còn lại thoát ra trong mồ hôi, hơi thở, phân. Khi cơ thể bình thường, lượng nước tiêu thụ cân bằng với nước phế thải khỏi cơ thể. Vì thế, khi uống nước nhiều thì ta sẽ đi tiểu nhiều và khi giảm uống nước, thì nước tiểu sẽ ít đi. Trung bình một ngày người lớn cần bổ sung khoảng từ 2 tới 2.5 lít rưỡi nước theo đường ăn uống. Nước được phân phối ở nhiều vùng khác nhau trong cơ thể, nhưng liên tục luân lưu qua sự thẩm thấu và hòa tan. Nước đưa vào cơ thể được ruột non hấp thụ, chuyển vào máu rồi từ đó được đưa đi khắp các mô, tế bào. Nước có một số nhiệm vụ như: Nước cần cho sự sống của mọi tế bào qua việc chuyên chở chất bổ dưỡng, chuyển hóa thức ăn và bài tiết những chất cặn bã của thức ăn cũng như từ các phản ứng sinh hóa học như dioxid carbon, ure, ammoniac.
Nước giữ nhiệt độ cơ thể bình thường tương tự như nước chứa trong bình tản nhiệt xe hơi. Chẳng hạn khi nhiệt độ trong cơ thể lên cao, vì nhiễm trùng sốt, vì đi trong nắng nóng, da sẽ đổ mồ hôi, làm giảm nhiệt độ trong người. Nước làm chất “bôi trơn” để giảm cọ xát trong sự vận động các khớp xương. Nước giúp các bộ phận cơ quan trong cơ thể hoạt động hữu hiệu và làm “chất đệm” để tránh sự cọ xát giữa cơ quan này với cơ quan khác. Nước là môi trường trung gian qua đó cả ngàn phản ứng hóa học cần cho sự sống liên tục diễn ra trong cơ thể. Nước chứa đựng nhiều khoáng, chất dinh dưỡng, kích thích tố, các diêu tố, tất cả theo một tỉ lệ cân bằng mà nếu có xáo trộn thì bệnh tật sẽ xảy ra.
Nước giúp cơ thể loại chất phế thải, cặn bã từ sự tiêu hóa cũng như từ các phản ứng sinh hóa học như phân, carbon dioxide, urea, ammonia. Nước là thành phần cấu tạo của mọi tế bào, mô và các chất dịch của cơ thể. Nếu không có nước thì sẽ không có nước miếng, dịch vị bao tử, mật để tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng. Bởi vậy, nước rất cần cho cơ thể cho dù tự nó không cung cấp năng lượng. Ðiều may mắn là nước có sẵn trong tự nhiên ở khắp mọi nơi. Cơ thể chỉ thiếu nước khi ta thiếu hiểu biết và không quan tâm đến nhu cầu này.
Trong thực tế, không ít người đã vô tình không uống đủ lượng nước mà cơ thể cần.
Bà lão nghèo...
Dưới đây là giai thoại về một nhân vật có thật trong lịch sử – thị trưởng thành phố New York Fiorello LaGuardia – người được ca ngợi là ‘ngài thị trưởng vĩ đại nhất’ trong lịch sử nước Mỹ. Mùa đông năm 1935 là khoảng thời gian mà nền kinh tế của nước Mỹ tiêu điều nhất. Không khí ảm đạm bao trùm toàn bộ thành phố New York, nơi cư ngụ của những đứa trẻ lang thang, những mảnh đời vất vưởng, và những gia đình túng thiếu không có bữa ăn no…
Vào một đêm lạnh giá giữa tháng 1/1935, một phiên tòa được tổ chức trong khu phố nghèo nhất New York. Đứng ở vị trí thẩm phán là ngài thị trưởng đáng kính của thành phố, ông Fiorello LaGuardia, và bên dưới bục là một bà lão đã gần 60 tuổi, áo quần cũ rách cùng với dáng vẻ sầu não. Gương mặt tiều tụy của bà hiện lên vẻ xấu hổ, bà đã bị buộc tội vì lỡ ăn cắp một ổ bánh mì. Ngài thị trưởng Fiorello LaGuardia, cũng đồng thời là quan tòa, hỏi: “Bị cáo, bà bị tố là đã lấy trộm bánh mì, có đúng vậy không?” Bà lão cúi mặt xuống, ấp úng đáp: “Vâng thưa quan tòa, tôi thật sự đã lấy trộm”. “Vì sao bà lại lấy trộm? Có phải vì bà đói bụng không?” – quan tòa lại hỏi. “Thưa quan tòa, tôi đã rất đói. Nhưng nếu chỉ vì đói thì tôi đã không làm như vậy”, bà lão trả lời. “Đứa con rể của tôi đã bỏ ra đi, còn con gái tôi thì ốm liệt giường. Tôi cần chiếc bánh mì này để nuôi hai đứa trẻ đang chết đói… Chúng thực sự rất đói…” Nói đến đây bà bật khóc. Bà lão nói xong, đám đông trong phòng xử án vang lên tiếng xì xào bàn tán. Ngài thị trưởng thở dài. Ông nhìn khắp gian phòng một lượt, rồi quay sang bà lão và nói: “Bị cáo, tôi sẽ phải xử phạt bà, luật pháp luôn công bằng và không có ngoại lệ đối với bất kỳ cá nhân nào. Bà phải nộp phạt 10 đô-la hoặc bị giam 10 ngày trong tù. Bà chọn cái nào?” Trong sự bế tắc tột cùng, bà lão đáp: “Thưa quan tòa, tôi xin bằng lòng chịu phạt. Nếu tôi có 10 đô-la thì đã không lấy cắp bánh mì. Vậy tôi xin được giam 10 ngày. Nhưng còn đứa con gái và hai đứa trẻ, ai sẽ chăm sóc chúng đây?”.
Ngài thị trưởng khẽ mỉm cười. Ông rút trong túi ra 10 đô-la và bỏ vào chiếc mũ nổi tiếng của mình. “Đây là 10 đô-la tiền phạt, bà đã được tự do!” Rồi ông lại hướng cặp mắt về phía những người tham dự phiên tòa: “Và bây giờ, mong các vị hãy nộp 50 xu tiền phạt. Tiền phạt để trừng phạt cho sự hờ hững của chúng ta, vì đã để một bà lão khốn khổ phải đi ăn cắp bánh mì nuôi những đứa trẻ đang chết đói. Ngài Baliff, hãy đi thu tiền phạt và đưa tất cả cho bị cáo”. Tất cả mọi người có mặt tại phiên tòa khi ấy đều không khỏi kinh ngạc. Không khí im lặng đến nỗi một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Trong phút chốc, tất cả mọi người lặng lẽ đứng dậy, lấy ra 50 xu và bỏ vào chiếc mũ của ngài thị trưởng.
Ngày hôm sau, tất cả các tờ báo của thành phố New York đều đồng loạt đưa tin về sự kiện lạ lùng này: 47,5 đô-la tiền phạt đã được trao cho một bà lão nghèo khổ, từng ăn cắp bánh mì để nuôi những đứa cháu đang chết đói của mình. Ngay cả người chủ lò bánh mì, cũng như các quan khách và cảnh sát trong thành phố, đều sẵn lòng nộp phạt 50 xu…
Và đó là câu chuyện về ngài thị trưởng Fiorello LaGuardia, người đã đưa New York vượt qua những tháng ngày đen tối nhất của cuộc Đại khủng hoảng. Ông được người dân New York yêu mến gọi bằng cái tên “Bông hoa bé nhỏ” vì chiều cao khiêm tốn 1,57 m và cái tên Fiorello (trong tiếng Ý, “Fiorello” nghĩa là “bông hoa nhỏ”). Ông cũng là người từng lái xe cứu hỏa xông vào các đám cháy lớn, từng đưa trẻ mồ côi ra sân chơi bóng chày, và khi các tờ báo của New York đình công, cũng chính ông bước lên đài phát thanh để đọc ‘truyện cười ngày Chủ Nhật’ cho các em nhi đồng.
Vào một đêm lạnh giá giữa tháng 1/1935, một phiên tòa được tổ chức trong khu phố nghèo nhất New York. Đứng ở vị trí thẩm phán là ngài thị trưởng đáng kính của thành phố, ông Fiorello LaGuardia, và bên dưới bục là một bà lão đã gần 60 tuổi, áo quần cũ rách cùng với dáng vẻ sầu não. Gương mặt tiều tụy của bà hiện lên vẻ xấu hổ, bà đã bị buộc tội vì lỡ ăn cắp một ổ bánh mì. Ngài thị trưởng Fiorello LaGuardia, cũng đồng thời là quan tòa, hỏi: “Bị cáo, bà bị tố là đã lấy trộm bánh mì, có đúng vậy không?” Bà lão cúi mặt xuống, ấp úng đáp: “Vâng thưa quan tòa, tôi thật sự đã lấy trộm”. “Vì sao bà lại lấy trộm? Có phải vì bà đói bụng không?” – quan tòa lại hỏi. “Thưa quan tòa, tôi đã rất đói. Nhưng nếu chỉ vì đói thì tôi đã không làm như vậy”, bà lão trả lời. “Đứa con rể của tôi đã bỏ ra đi, còn con gái tôi thì ốm liệt giường. Tôi cần chiếc bánh mì này để nuôi hai đứa trẻ đang chết đói… Chúng thực sự rất đói…” Nói đến đây bà bật khóc. Bà lão nói xong, đám đông trong phòng xử án vang lên tiếng xì xào bàn tán. Ngài thị trưởng thở dài. Ông nhìn khắp gian phòng một lượt, rồi quay sang bà lão và nói: “Bị cáo, tôi sẽ phải xử phạt bà, luật pháp luôn công bằng và không có ngoại lệ đối với bất kỳ cá nhân nào. Bà phải nộp phạt 10 đô-la hoặc bị giam 10 ngày trong tù. Bà chọn cái nào?” Trong sự bế tắc tột cùng, bà lão đáp: “Thưa quan tòa, tôi xin bằng lòng chịu phạt. Nếu tôi có 10 đô-la thì đã không lấy cắp bánh mì. Vậy tôi xin được giam 10 ngày. Nhưng còn đứa con gái và hai đứa trẻ, ai sẽ chăm sóc chúng đây?”.
Ngài thị trưởng khẽ mỉm cười. Ông rút trong túi ra 10 đô-la và bỏ vào chiếc mũ nổi tiếng của mình. “Đây là 10 đô-la tiền phạt, bà đã được tự do!” Rồi ông lại hướng cặp mắt về phía những người tham dự phiên tòa: “Và bây giờ, mong các vị hãy nộp 50 xu tiền phạt. Tiền phạt để trừng phạt cho sự hờ hững của chúng ta, vì đã để một bà lão khốn khổ phải đi ăn cắp bánh mì nuôi những đứa trẻ đang chết đói. Ngài Baliff, hãy đi thu tiền phạt và đưa tất cả cho bị cáo”. Tất cả mọi người có mặt tại phiên tòa khi ấy đều không khỏi kinh ngạc. Không khí im lặng đến nỗi một cây kim rơi xuống đất cũng có thể nghe thấy. Trong phút chốc, tất cả mọi người lặng lẽ đứng dậy, lấy ra 50 xu và bỏ vào chiếc mũ của ngài thị trưởng.
Ngày hôm sau, tất cả các tờ báo của thành phố New York đều đồng loạt đưa tin về sự kiện lạ lùng này: 47,5 đô-la tiền phạt đã được trao cho một bà lão nghèo khổ, từng ăn cắp bánh mì để nuôi những đứa cháu đang chết đói của mình. Ngay cả người chủ lò bánh mì, cũng như các quan khách và cảnh sát trong thành phố, đều sẵn lòng nộp phạt 50 xu…
Và đó là câu chuyện về ngài thị trưởng Fiorello LaGuardia, người đã đưa New York vượt qua những tháng ngày đen tối nhất của cuộc Đại khủng hoảng. Ông được người dân New York yêu mến gọi bằng cái tên “Bông hoa bé nhỏ” vì chiều cao khiêm tốn 1,57 m và cái tên Fiorello (trong tiếng Ý, “Fiorello” nghĩa là “bông hoa nhỏ”). Ông cũng là người từng lái xe cứu hỏa xông vào các đám cháy lớn, từng đưa trẻ mồ côi ra sân chơi bóng chày, và khi các tờ báo của New York đình công, cũng chính ông bước lên đài phát thanh để đọc ‘truyện cười ngày Chủ Nhật’ cho các em nhi đồng.
Subscribe to:
Posts (Atom)