Thursday, September 6, 2018

Lợi Ích Của Thuốc Aspirin - BS Hồ Ngọc Minh


Thuốc Aspirin, một loại thuốc chống đau nhức và viêm sưng rất thông dụng, còn có lợi ích giảm nguy cơ bị tai biến về hệ thống mạch máu, ví dụ như đột quỵ tim và tai biến não. Thuốc có thể dùng để ngăn ngừa phòng chống bệnh tim mạch, nhưng chỉ khi nào lợi ích của thuốc đứng trên những hiểm nguy của việc dùng thuốc, vì thế phải cân nhắc với sự thỏa thuận của bác sĩ trước khi dùng.

Đột quỵ tim và tai biến não thường xảy ra khi mà những cục máu đông thành hình làm nghẽn nguồn dưỡng khí oxygen cung cấp cho trái tim hay não bộ. Những cục máu đông này thường xảy ra khi mà một chỗ đóng vảy trên vách của động mạch bị vỡ ra. Cục máu đông này sẽ làm nghẽn sự lưu thông của mạch máu, đưa đến những hư hại cho trái tim và cho bộ não.

Thuốc Aspirin có thể chống lại sự thành hình của các cục máu đông này bằng cách cản trở phận sự của tiểu cầu platelets, do đó giúp ngăn ngừa đột quỵ tim và tai biến não.
Thêm vào đó, trong những năm gần đây, nhiều bằng chứng thu thập được cho thấy thuốc Aspirin còn có thể giảm nguy cơ tử vong vì ung thư.

Tuy nhiên những ích lợi của thuốc cũng cần phải cân nhắc so với những hiểm nguy của thuốc. Phản ứng phụ chính của thuốc là dễ bị chảy máu mũi, chảy máu đường ruột, và kể cả chảy máu trong não. Cho dù những trường hợp xuất huyết này ít khi nghiêm trọng, nhưng đã xảy ra. Do đó, những ai đã có nguy cơ dễ bị xuất huyết thí dụ như bị loét bao tử, hay đã bị xuất huyết não thì không nên dùng thuốc Aspirin.

Một số ứng dụng của thuốc để giảm nguy cơ bệnh tim mạch gồm có:
1. Thuốc Aspirin có thể cứu mạng trong những trường hợp bị đột quỵ tim cấp kỳ. Những ai nghi ngờ đang bị đột quỵ tim nên nhai trong miệng từ hai đến bốn viên thuốc Asprin liều lượng thấp (85mg mỗi viên) tức là từ nửa viên đến một viên thuốc Aspirin người lớn, trước khi gọi 9-1-1.

2. Thuốc còn được khuyên nên dùng cho người đã từng bị đột quỵ tim, từng được thông tim hoặc được nối ghép mạch máu tim (coronary artery bypass surgery). Đối với những bệnh nhân này, chỉ cần từ 75 đến 100mg thuốc mỗi ngày là đủ để phòng chống nguy cơ bị tái phát.

3. Aspirin được khuyên nên dùng cho một số bệnh nhân (không phải mọi người) đã từng bị tai biến não nhỏ còn gọi là transient ischemic attack (TIA, or “mini-strokes”). Trong trường hợp tai biến não xảy ra do xuất huyết não thì Aspirin không nên sử dụng. Bạn cần hỏi thăm bác sĩ trước khi dùng.

4. Dùng thuốc Aspirin mỗi ngày còn giúp ngăn ngừa đột quỵ tim cho những người có nguy cơ bị tai biến tim mạnh. Ví dụ như người hút thuốc lá, béo phì, cao máu, tiểu đường, nhiễm trùng kinh niên, hay trong gia đình đã có tiền sử bệnh tim mạch. Một số bệnh nhân có bệnh tim đập bất thường, hay bị hư van tim cũng cần dùng thuốc. Ngoài ra, đàn ông Á Châu trên 65 tuổi cũng có nguy cơ bị tai biến mạch máu tăng cao.

Năm 2018, một nghiên cứu đăng trên tờ báo y khoa The Lancet cho biết, dùng thuốc Aspirin liều lượng thấp 85mg để phòng chống bệnh tim có thể chỉ phù hợp cho người nặng dưới 70 kg (khoảng 154 pounds). Điều nầy cũng có lý vì nồng độ thuốc trong người còn tùy vào sức nặng và kích thước của cơ thể. Do đó, người trên 70 kg có thể cần đến nguyên liều thuốc Aspiri người lớn mỗi ngày mới đủ công hiệu.
Một nghiên cứu nhỏ khác cũng cho thấy, có khi chỉ cần uống một viên thuốc Aspirin người lớn 3, hay 4 ngày mỗi tuần là đủ công hiệu, miễn sao thường xuyên có thuốc luân lưu trong cơ thể.
Tuy nhiên những nghiên cứu nầy cần phải được khai triển thêm. Vì thế, hầu hết các bác sĩ khuyên, những ai chưa từng bị bệnh tai biến tim mạch, quyết định dùng thuốc để phòng chống bệnh tùy thuộc vào mỗi cá nhân. Có nghĩa là nên tham khảo với bác sĩ trước, cho dù thuốc có thể mua không cần có toa.
Ngoài ra, bệnh nhân bị bệnh tiểu đường cũng có nguy cơ bị tai biến mạch máu tăng cao, vì thế gần đây các bệnh nhân có bệnh tiểu đường, trên 50 tuổi cho đàn ông và trên 60 nếu là phụ nữ, nếu có thêm những nguy cơ bị bệnh tim mạch, thì nên uống thuốc Aspirin để phòng ngừa.
Thuốc Aspirin còn đóng vai trò quan trọng trong việc phòng chống các bệnh ung thư.
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu cho thấy uống thuốc Asprin liều lượng thấp trong thời gian từ 5 năm trở lên sẽ giảm nguy cơ bị tử vong vì ung thư, cụ thể là ung thư ruột già và ung thư bạch huyết lymphoma. Cũng vì lợi ích cả về bệnh tim mạch lẫn ung thư, nhiều bác sĩ có lời khuyên tất cả mọi người trên 50 tuổi, nếu không bị bệnh xuất huyết, thì nên uống thuốc Aspirin mỗi ngày.

Một lần nữa, nếu sử dụng đúng chỗ, thuốc Aspirin có lợi ích rất lớn trong việc phòng chống các bệnh tai biến mạch máu như đột quỵ tim, đột quỵ não, và có thể giảm nguy cơ tử vong vì ung thư. Tuy nhiên, vì thuốc Aspirin có phản ứng phụ gây ra chảy máu đường ruột, ta cần phải cân nhắc giữa lợi và hại. Đây là vấn đề quan tâm cần phải nêu ra với bác sĩ trước khi sử dụng thuốc.

BS Hồ Ngọc Minh

Tại Sao Vợ Chồng Phải Nói Cho Nhau Nghe - TS Trần Mỹ Duyệt

Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc gia đình đổ vỡ là vợ chồng không còn nói được với nhau, hoặc không muốn nói với nhau: hai vợ chồng sống trong im lặng. Theo văn chương chính trị là họ đang trong thời kỳ “chiến tranh lạnh”!Nếu có dịp trao đổi và lắng nghe tâm sự của những cặp vợ chồng bất hạnh hoặc đang trên đà đổ vỡ, người ta sẽ được nghe hàng trăm câu chuyện, hàng ngàn lý do người này nói về người kia. Vợ phê bình, chê trách chồng, chồng ngược lại, cũng phê bình, chỉ trích vợ. Nhưng tất cả chỉ là một lối diễn tả độc thoại, hoặc nói trông trổng, nói bóng nói gió, nói theo kiểu: “nói đấy mà đây động lòng”. Rất tiếc theo tâm lý học, cũng như theo sinh lý học, Thượng Đế đã sáng tạo bộ óc con người để làm nhiều việc, ngoại trừ việc phải hiểu hoặc biết được vợ hay chồng mình muốn gì!

NGUYÊN NHÂN:
Dĩ nhiên trong tất cả những lý do đưa đến việc vợ chồng khắc khẩu, không lắng nghe nhau, không muốn nói và không nói được với nhau đều có sự góp mặt của cả hai người: người chồng cũng như người vợ.
Vợ chồng là hai nhân tố chính, ngoài ra còn có sự can thiệp, ảnh hưởng của cha mẹ, anh chị em, bạn hữu của hai bên.

1.Thiếu tìm hiểu tâm lý:
Nói theo tính cách chuyên môn hơn, thì cuộc sống vợ chồng thường gặp phải những khó khăn, những chuyện bất đồng là vì tâm lý khác biệt giữa nam và nữ, ảnh hưởng tâm lý giáo dục gia đình, tôn giáo, học đường, xã hội, trong đó bao gồm ảnh hưởng của công ăn việc làm, của môi trường sống và bạn bè.
Với từng ấy những phức tạp như vậy, ai dám nói mình hiểu chồng hoặc vợ 100%.

Ai dám nói mình biết vợ hay chồng mình muốn gì?
Người Việt Nam biểu cảm về sự hiểu biết ấy bằng một câu nói rất vô thưởng, vô phạt chưa nói tới là phản tâm lý: “Tôi đi guốc trong bụng ông ấy.” Cái lối “suy bụng ta ra bụng người” này rất nguy hiểm và cũng là nguyên nhân gây nên những bế tắc trong việc tìm hiểu, trao đổi giữa vợ chồng.

Sigmund Freud, cha đẻ của ngành Phân Tâm Học, sau 20 năm miệt mài nghiên cứu về tâm lý cũng phải thốt lên, đại khái: “Tôi mà biết đàn bà muốn gì, tôi chết liền!”.
Một cách tương tự, hiểu biết về ước muốn của đàn ông cũng không phải là việc làm dễ dàng.   

2. Cái tôi quá lớn: 
Bên trong những nguyên nhân thường gây ra tranh cãi, bất đồng giữa vợ chồng còn có một ngãng trở rất khó vượt qua,đó là cái tôi.
Nhiều nhà tâm lý, nhiều bác sỹ tâm thần, nhiều nhà Tâm Lý Thần Kinh, nhiều Tâm Lý Gia Trị Liệu và Khảo Cứu không chỉ là những nạn nhân của sự cãi vã, tranh chấp trong gia đình, mà rất nhiều người đã phải chấp nhận đau thương của hôn nhân đổ vỡ không phải vì họ không biết tâm lý, không hiểu về sự khác biệt tâm lý nam nữ, nhưng chỉ vì cái tôi của họ qúa lớn.

Lớn đến độ không thể hạ mình xuống dù thấp hơn một chút, và người đối diện là vợ hay chồng dù cố gắng lắm cũng không có thể nhìn thẳng vào mắt họ để hiểu được những gì họ đang suy nghĩ trong đầu.
Đó cũng là hình ảnh thông thường cho những cặp vợ chồng mà cái tôi của người này to hơn cái tôi của người kia.

Hoặc cả hai cái tôi đều lớn như nhau.
Tôi phải đúng. Tôi phải vùng lên. Tôi phải cho nó biết tay.
Tôi. Tôi. Và tôi.
Như con cóc trong truyện ngụ ngôn của La Fontaine. Nó nhìn con bò rồi cứ phùng mang, trợn mắt hít vào cho căng phồng cái bụng đến độ nổ tung banh xác. Người có cái tôi quá lớn luôn luôn hành động như vậy cho mình hoặc cho vợ hay chồng mình. Họ phải làm sao cho đối phương phải phùng mang, trợn mắt, tức càng hông cho đến khi nổ tung ra qua tranh cãi, chửi bới nhau mới thôi.
Kết quả họ chẳng được gì, và người phối ngẫu cũng chẳng được gì ngoài trừ sự giận hờn, câm nín, và dè chừng nhau.     

3. Ích kỷ trong lối sống và suy nghĩ:
Như vậy, theo phân tâm học, họ chính là người ích kỷ dù là dưới cái nhìn tự tôn, tự tin, tự ty, hay tự kỷ. Những người vợ hoặc người chồng này không một chút nhường nhịn hay ít nhất là công bằng với nhau. Họ suy nghĩ, hành động, và trong tất cả chỉ vì họ, vì cái tôi, vì tự ái cá nhân, hoặc vì những đam mê của chính họ.
Họ không có can đảm nói ra những suy nghĩ ích kỷ ấy trước mặt vợ hoặc chồng.
Họ cũng không chấp nhận nếu vợ hoặc chồng chỉ cho họ lối suy nghĩ, hành động thiếu trưởng thành ấy.

Tóm lại, họ rất tự tôn nhưng lại cũng rất tự kỷ và tự ty.
Họ không dám đối diện với sự thật, dù cho sự thật ấy giúp họ thoát ra khỏi lối sống ích kỷ, khỏi suy nghĩ hẹp hòi mà họ đang gây ra cho vợ, cho chồng, cho gia đình họ. 
Tóm lại, họ là người ngại nghe sự thật, luôn tránh né sự thật, và phản ứng của họ trước những sự thật thường là rất tiêu cực qua ngôn ngữ cũng như hành động.

4. Tình yêu hời hợt:
Nhưng nếu bảo họ là không có tình cảm, không yêu dành cho vợ hay chồng, lập tức họ sẽ phản ứng mạnh mẽ. Họ nói họyêu vợ, yêu chồng, yêu con. Họ sẵn sàng hy sinh tất cả vì gia đình, vì các con. Và điều nay đúng một phần.
Cái không đúng còn lại chính là cái mà họ dành cho mình là cái tôi: Tôi trước giờ cũng vậy. Tôi giữ vững lập tường. Yêu hay không yêu tự hành động của tôi đã nói rõ.

Khi gặp một người chồng hay người vợ như vậy, đến các nhà tâm lý và chuyên gia về hôn nhân, gia đình cũng thấy rất khó khăn. Bởi vì nếu nói họ không yêu vợ hay chồng, hoặc con cái họ, lập tức họ phản đối. Họ cho là nhà tâm lý hoặc chuyên gia không biết họ, không hiểu họ.
Nhưng yêu như họ lại không phải là yêu.
Đó chỉ là một sự trao ban tình cảm.
Đó chỉ là một quan niệm và lối sống bình thường của một người gọi là vợ hay chồng đối với nhau. Nhưng họ cho đó là đầy đủ phận sự, và họ là người chồng hoặc người vợ tốt.

Yêu không chỉ dừng lại ở những suy nghĩ và hành động theo cảm tình, theo lối sống và quan niệm bình thường ai sao tôi vậy.
Yêu là phải biết hy sinh.
Không phải yêu một cách mơ hồ, yêu có điều kiện, tức là lúc nào thích thì yêu, không thích không yêu.
Nhưng phải yêu “cho đến chết” như Chúa đã yêu.

Tuy nhiên, cái chết ở đây trong tình yêu chân thật là vợ chồng chấp nhận nhường nhịn nhau, lắng nghe nhau, và sửa đổiphần nào lối sống cho phù hợp với nhau.
Cũng có thể nói : “Yêu là chết trong lòng một ít”.
Và trong đời sống thường ngày vợ chồng cũng chỉ cần những cái “ít” ấy với sự quan tâm là đủ hạnh phúc. 

TRỊ LIỆU:
Với những khó khăn như vậy liệu hai vợ chồng có thể hóa giải được những xung khắc để kiến tạo một gia đình hạnh phúc không? Thưa có.

1.Tâm linh:
Bạn nên tạo một nếp sống tâm linh để bù lại cho chồng hay cho vợ mình. Tóm lại, quan niệm về tâm linh luôn luôn phải có một chỗ đứng vững vàng trong đời sống tinh thần của bạn. Hãy nhớ lại dụ ngôn “Nước lã hóa rượu ngon”, và bạn tự biết mình phải làm gì, cần gì trong lãnh vực tinh thần. Hãy đến với Đức Trinh Nữ Maria khi bình rượu tình yêu của các bạn cảm thấy bị vơi cạn. Và hãy nói với Mẹ: “Chúng con hết rượu rồi!”

Không chỉ Thánh Kinh mới nhấn mạnh đến tâm linh, trong cái nhìn tâm lý trị liệu, những nhà tâm lý có nội tâm cũng khám ra bí quyết hạnh phúc và chữa lành ngay trong đời sống đạo và mối tương giao với Thiên Chúa. Nếu có dịp mời bạn đọc tác phẩm God, Faith, and Health của Jeff Levin, Ph.D.
Tóm lại, nếu chồng bạn không nghe bạn, vợ bạn cũng không nghe bạn thì bạn vẫn còn Chúa, còn Đức Trinh Nữ Maria luôn đồng hành và sẵn sàng nghe bạn. Điều quan trọng là bạn có muốn tâm sự với các Ngài hay không? Và có muốn lắng nghe các Ngài hay không?

2. Lắng nghe nhau:
Lắng nghe nhau là một nghệ thuật trong phương pháp trị liệu hôn nhân. Đã là nghệ thuật thì bạn phải trau dồi và học hỏi không ngừng. Một trong những bài học căn bản của nghệ thuật trao đổi, tâm sự, chia sẻ giữa vợ chồng là bài học “lắng nghe”. Chỉ khi lắng nghe bạn mới hiểu được người phối ngẫu của mình đang nghĩ gì và đang mong muốn ở bạn những gì? Nếu không lắng nghe, bạn rất dễ rơi vào võ đoán, kết án bừa bãi, tạo sự khó chịu, bực bội cho chồng hoặc vợ bạn.

Trong nghệ thuật lắng nghe, bạn cũng đừng bao giờ phớt lờ những gì vợ hoặc chồng bạn muốn nói hoặc đã nói. Hậu quả không hề nhỏ như bạn tưởng, vì từ những dồn nén tâm lý ấy sẽ nẩy sinh rất nhiều điều khó lường khi mà sự chịu đựng câm nín của người ta đã đến lúc cần phải được giải tỏa.
Về phần người nói dù là vợ hay chồng cũng phải theo nguyên tắc căn bản này, đó là:
“Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”,
Và:
“Nói ngọt nó lọt đến xương”.
Như vậy không phải hễ mình muốn gì là nói. Nói bất cứ lúc nào? Nói với bất cứ thái độ nào? Và nói bằng bất cứ ngôn ngữ nào? Đấy không phải là nói, mà là tra tấn lỗ tai, tra tấn trí tưởng tượng, và tra tấn tình cảm của chồng hoặc vợ.

Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt

109 Bài Thơ Con Cóc- Cũng Là 109 Cách Chữa Bệnh Dân Gian Của Phuc Toan Anh

1. Lẹo mắt, đũa cả đánh cơm
Hơ nóng áp lẹo vài lần khỏi ngay.
2. Dính mưa dị ứng mề đay
Đồ khô, hơ nóng ta thay mặc vào.
3. Bị ong đốt phải làm sao
Tía tô bóp nát rịt vào chỗ đau.
4. Rết cắn lá Ớt lấy mau
Đem giã lấy nước bôi vào vết thương.
5. Độc rắn, nhựa Đu đủ xanh
Bôi, rồi thái quả sắc nhanh kịp thời.
6. Dạ đề trẻ khóc không ngơi, 
Xác Ve sao, tán, uống bồi nước Cơm
7. Dị ứng Kinh giới, Đinh lăng
Rau má, Diếp cá đun cùng Tía tô.
8. Quai bị, muỗi đốt sưng u
Hạt Gấc nướng, ngâm giấm, từ từ xoa.
9. Bị sốt vi rút mùa Hè 
Kinh giới, Diếp cá lấy về đun lên.
10.Trẻ em, Kiết lỵ mấy phen
Cỏ sữa đun uống, vài lần cầm luôn.
11. Lang ben dùng rượu ngâm riềng, 
Hay Phá cố chỉ thường dùng mà bôi.
12. Muốn gan thải độc cấp thời
Phan tả diệp sắc uống thời độc ra.
13. Muốn cho hết bệnh vàng da
Nhân trần sắc uống thay trà sớm trưa.
14. Méo mồm khi gió lạnh về 
Uống liền kinh giới, lâu thì khó cân. 
15. Muốn cho hôi miệng hết dần
Lá Ổi sắc đặc ta cần súc luôn.
16. Khi nào mới bị sâu răng 
Hạt Cau ngâm rượu ta dùng ngậm ngay.
17. Cẩu tích đun uống hằng ngày
Thận khỏe, răng chắc mặt mày tươi vui.
18. Mụn nhọt, mẩn ngứa muốn lui
Lá Đinh lăng sắc, uống chơi ngày ngày.
19. Mộc thông giúp Sữa thông ngay, 
Lá Đinh lăng, lá Mít đem thay đun dùng.
20. Khi cai lại muốn sữa ngừng
Lá Dâu tươi sắc, nhẹ nhàng sữa lui.
21. Táo bón, có sữa Bò tươi
Thật nhiều theo sức ta thời uống ngay
Hoặc rau Diếp cá, rau Đay, 
Mùng tơi, Dền đỏ, hàng ngày nấu ăn.
22. Tiêu chảy, có Hồng xiêm xanh
Cùng với lá Ổi, đun thành thuốc ngưng,
Hoặc riêng vỏ Măng cụt dùng
Sắc nước cho uống, bệnh cầm thảnh thơi.
23. Muốn gan mát, mắt sáng ngời
Có trà hoa Cúc ta mời bạn thân.
24. Áp huyết thấp muốn cho tăng
Trà Gừng pha uống dần dần lại lên.
25. Áp huyết cao muốn hạ luôn
Hoa Đại hãm uống vài bông nhẹ đầu.
26. Rôm sảy muốn trẻ hết mau
Nước Dừa tươi đó uống vào rất ngon.
27. Kỷ tử nếu ta thường dùng
Trẻ lâu, da đẹp sánh cùng thời gian.
28. Muốn cho béo đẹp mỡ màng
Sữa Ngô nếu có ta dùng thường xuyên.
29. Muốn mau tiêu mỡ giảm cân,
Táo mèo, vỏ Bưởi sắc dùng vui thay.
30. Muốn chân khỏe mạnh, dẻo dai
Ngũ gia bì đó sắc thời uống luôn.
31. Muốn cho khỏi bệnh đại tràng
Lá Mơ tam thể ta ăn thật nhiều.
32. Dạ dày muốn cho khỏi đau
Vỏ trứng Gà sấy, bột này ta chiêu.
33. Khô mắt, quáng gà về chiều
Ngày ngày Bí đỏ làm nhiều mà ăn.
34. Bụng lạnh muốn ấm từ trong
Củ Riềng sắc uống, vừa dùng lạnh tan.
35. Muốn cho mát ruột mát gan
Bột Sắn dây uống, nóng tan nhẹ liền.
36. Muốn cho phần ngực ấm êm
Gừng tươi giã nhuyễn nước đem uống dần.
37. Muốn cho phần ngực mát lành
Hạt Mã đề sắc nước dùng bệnh lui.
38. Đái đục, rễ cỏ tranh sao
Sắc đặc lấy nước uống vào tiểu trong.
39. Muốn cho vào giấc ngủ nhanh
Lạc tiên đun uống lại thành tiên ngay.
40. Da mặt trắng mịn, lá Dâu, 
Vừng đen đun nước, cho vào mật Ong.
41. Muốn cho bệnh trĩ khỏi nhanh
Hoa Thiên lý đó ta ăn hằng ngày.
42. Nếu ta ăn uống không tiêu
Đun nước củ Sả uống nhiều cho thông.
43. Bị ho, ngực họng nhiều đờm
Vỏ Quýt đun nước uống thường tiêu tan.
44. Miệng nôn, trôn tháo bệnh nan
Hoắc hương, vỏ Quýt, ta đun uống liền.
45. Thời tiết mất giọng, tiếng khàn
Uống nước vỏ Quýt, giọng thanh hết rè.
46. Chanh leo đừng bỏ hạt đi
Đó là thần dược phòng ngừa ung thư.
47. Đám tang, bốc mộ nhớ ghi
Có Gừng, Tỏi nào sá chi hàn tà.
48. Cam tẩu mã, nào phải sợ
Cóc thiêu toàn tính lấy tro rắc vào.
49. Trẻ mồ hôi trộm, lá Dâu
Hái buổi sáng sớm, đun sau uống dần.
50. Hay bị mồ hôi tay chân 
Lá Lốt vừa uống, vừa ngâm cũng lành.
51. Trời lạnh áp huyết vọt lên
Ngâm chân Gừng, Muối hoả liền thoái lui.
52. Rét run, tái mặt, thâm môi
Giã cho uống nước Gừng tươi ấm dần.
53. Gan nhiễm mỡ, bụng béo tròn 
Sao vàng vỏ Bưởi, đun dùng rất hay.
54. Có Hp trong dạ dày
Đừng quên uống cạn trà Dây thường thường.
55. Lại hay bị bệnh đau lưng
Có củ Cẩu tích ta dùng chớ quên.
56. Xương khớp bị đau triền miên
Ngoài vườn có dây Đau xương trị lành.
57. Đau vai gáy, Dâu cả cành
Sao vàng, hạ thổ mà thành thuốc thang.
58. Rau Dền, rau Má, Cải xoong
Là món bổ máu ta dùng yên tâm.
59. Nhân sâm và củ Đinh lăng
Dùng vào bổ khí, lực tăng sức bền.
60. Bí trung tiện muốn thông nhanh
Có hạt Mít luộc, ăn liền gió đua
61. Bí đại, tiểu tiện Phèn chua
Đem phi, tán bột, rốn kia rắc vào.
62. Tiểu nhiều muốn giảm thì sao
Nấu cháo củ Súng ăn vào giảm ngay.
63. Muốn đi tiểu nhiều hàng ngày
Có rau Cải đó, ta nay ăn đều.
64. Nếu ai bị chứng giời leo
Nhựa cỏ Sữa đó bôi vào đừng quên.
65. Bản đồ bệnh lưỡi trẻ em
Cà tím cô đặc, lấy bông thấm vào.
66. Lá rau Ngót, bệnh lưỡi tưa
Giã vắt lấy nước, bôi thừa sức tan.
67. Mồ hôi muốn thoát dễ dàng
Có củ Khúc khắc ta mang ra dùng.
68. Đã lâu bị nhịn đói lòng
Chỉ nên ăn cháo loãng chớ dừng no cơm.
69. Khi bị ngộ độc thức ăn
Món ngon trước mặt chớ nên chào mời.
70. Bị đỉa chui vào trong người
Mật Ong đặc trị ta thời dùng ngay.
71. Mật Ong dẫu thật là hay 
Trẻ dưới 01 tuổi ta nay tránh dùng.
72. Suy dinh dưỡng, Cao ban long 
Dùng cho trẻ nhỏ thuốc thần chớ quên.
73. Đứt tay, chảy máu vết thương 
Lấy tro giấy đốt ta đem rịt vào.
74. Lưu thông máu não làm sao
Dùng rau Ngải cứu ăn vào nhẹ thôi.
75. Sốt cao muốn hạ kịp thời 
Diếp cá với cỏ Nhọ nồi đừng quên.
76. Mào gà trắng sao cháy đen 
Tử cung ra máu đun dùng cầm ngay.
77. Tiêu sỏi gan, mật: Nghệ vàng
Lấy về làm thuốc ta đừng có quên.
78. Muốn tiêu sỏi thận: trái Thơm
Nướng trên than củi với cùng phèn chua.
79. Bệnh gout cần phải phòng ngừa
Đỗ xanh cả vỏ, ta cho ăn nhiều.
80. Trẻ ho có lá Hẹ tươi
Đường phèn cùng hấp ta rời kháng sinh.
81. Đau mắt đỏ Diếp cá tanh
Rửa sạch giã nhuyễn ta đem đắp vào.
82. Chẳng may bỏng lửa, nước sôi
Lá Bỏng giã nhuyễn, đắp vào vết thương
83. Viêm họng có quả Trám đen
Bỏ hạt, ninh kỹ thêm đường uống nhanh.
84. Bong gân lá Láng ta dùng
Hơ nóng, ngâm nước gạo xong đắp vào.
85. Mồ hôi trộm, lở, chốc đầu 
Lá Bỏng vắt nước, uống vào thật hay.
86. Kiết lỵ nhăn nhó mặt mày
Rau Sam đun nước uống ngay mau lành.
87. Xơ vữa động mạch để phòng 
Rau Sam, Gừng sống ta cùng đun sôi.
88. Bắp cải viêm loét dạ dày
Trần qua, vắt nước, ta thay nước dùng.
89. Viêm loét dạ dày trên đường 
Bột Sắn dây uống tạm hàn vết đau.
90. Bị bỏng do Ớt rát cay
Lá Ớt giã nát lấy ngay đắp vào.
91.Đi ngoài ra cả máu tươi
Hoa hòe sao cháy, đun sôi ta dùng.
92. Nóng quá mũi chảy máu cam
Nhọ nồi mát máu đun làm thuốc thôi.
93. Dạ dày xuất huyết, gấp rồi
Củ Bạch cập nướng cháy hơi mà dùng.
94. Đừng dại nghịch nhựa xương rồng
Nó có chất độc loét tung da dày.
95. Sốt xuất huyết, phải cấp thời
Mau tìm Diếp cá, Nhọ nồi trị ngay.
96. Trời lạnh, huyết áp lên cao
Ngâm chân nước ấm hạ rồi áp ơi.
97. Mưa lạnh xương nhức, khớp đau
Uống, ngâm lá lốt đã sao cho vàng.
98. Mùa Đông lạnh thấu tận xương
Củ gừng nướng cháy, ta đun uống liền.
99. Trời lạnh bị đau một bên
Gội đầu nước Quế ấy liền hết đau.
100. Quả dâu ta chín, thật hay
Bổ huyết, sáng mắt, tóc này thêm đen.
101. "Cam lồ" nước bọt chớ quên 
Nuốt ực xuống bụng, tiêu tan bệnh mà.
102. Mụn thịt ( cơm ) nhìn chớ có buồn
Tía tô vò nát bôi vào rụng thui
103. Hóc xương , đọc thần chú câu này:
" Gần thì ra, xa thì vào" thế là nó trôi.
104. Trung tiện mà thấy khó khăn
Hạt mít đem luộc ăn vào thật hay
104. Tiểu tiện mà bí, bụng chướng thật nguy
Hành ta đem luộc uống vào hay ngay
105. Đại tiện mà gặp khó khăn
Phèn phi tán bột, rắc vào rốn thui.
106. Mồ hôi mà nó chẳng ra, nặng người
Lấy Hương Nhu tía , vừa uống vừa xông
107. Tác mũi , mà nó chẳng thông
Lấy máy sấy tóc hơ ngay ấn đường
108.Mùa Đông, trời lạnh ngủ chẳng ngon.
Đun gừng đã nướng, thêm đường cho ngon.
109. Bệnh Gout xin cũng chẳng có gì lo..
Tía tô, lá Vối, đỗ Xanh dùng lâu khỏi liền.

Sưu tầm

Tuesday, September 4, 2018

TRÙM TÌNH BÁO VNCH , BÁC SĨ TRẦN KIM TUYẾN

 

 Mời xem bài viết vài nét cuộc đời của bác sỉ Trần Kim Tuyến , bài nên đọc ...TRÙM TÌNH BÁO VNCH , BÁC SĨ TRẦN KIM TUYẾN.
Anh Lai quý mến,
Cám ơn anh đã chuyển cho đọc bài thật hấp dẫn của ông Trần Trung Chính về BS. Trần Kim Tuyến. Nghĩ lại thì ông Trần Kim Tuyến kỳ bí thật. Thế mà tôi cứ nghĩ ông ấy là "agent double". Tôi cứ sợ sợ ông thế nào ấy! Con người mặt lạnh như tiền, tai tái không có máu mặt. Xin Chúa cho ông ấy được rỗi phần linh hồn.
Anh Lê Văn Thái, người ta thường gọi là Thái trắng, cánh tay phải của bác sĩ Trần Kim Tuyến mà người ta cho là ông trùm mật vụ thời cụ Diệm. Chính thực cơ quan này có tên là Tổng ủy Chính trị, còn Thái trắng chính là đồ đệ của Nguyễn Lương Bằng, người đứng đầu phản gián của VM do Mỹ đào luyện khi chống Nhật. Mọi việc Phạm Xuân Ẩn là đều báo cáo với anh Thái Trắng. Khi chính quyền quân nhân nắm quyền, Thái trắng làm cố vấn cho Nguyễn Cao Kỳ; vì vợ Kỳ là Đặng Tuyết Mai là người em nuôi của vợ anh Thái ( bà Tuyết) sau khi rời Đà Lạt về Saigon.
KQ Cung Thúc Cần con trai của Cung Đình Vận làm việc dưới trướng của Thái Trắng. Anh Lê Văn Thái đã quá vãng tại Mỹ cách đây chục năm, anh Thái cũng là người gốc Nam Định, anh rất kín tiếng. Khi định cư vợ chồng anh Thái có viết thư hỏi thăm KL một lần.
Theo tôi biết CSVN đã bốc nhằng Phạm Xuân Ẩn để gây uy tín riêng cho Hanoi. Có dịp tôi sẽ trình bầy Mỹ can thiệp vào VN như thế nào qua các chữ tắt biến vận theo thứ tư biến chuyển chính trị của từng thời gian can thiệp như MAP - MDAP- MAAG - MAVC và DAO - Mỹ là một quốc gia rất phân minh về tiền bạc do công dân Mỹ đóng thuế, tài chánh của chính quyền Mỹ phải phân minh để Quốc hội Mỹ chấp thuận. Tài chánh chi tiêu hay viện trợ đều theo chương trình có tên
Friday, September 23, 2016
Trùm Tình Báo Việt Nam - Bác Sĩ Trần Kim Tuyến
Bác Sĩ Trần Kim Tuyến
(Kính dâng hương hồn các chiến sĩ tình báo của VNCH bị thảm sát bởi những tay sai của Việt Cộng núp dưới danh nghĩa các lãnh tụ đảng phái chính trị và các lãnh tụ tôn giáo)
Từ sau năm 2005, nhất là sau khi ông Phạm Xuân Ẩn qua đời , mỗi năm vào dịp 30 tháng 4, người ta lại đăng lại bài viết của ký giả Hoa Kỳ viết về ông cùng một số bài viết của một số tác giả khác (người Việt Nam và có lẽ là phía “bên thắng cuộc”). Những người viết về ông Phạm Xuân Ẩn đã khéo tặng ông danh xưng “người điệp viên hoàn hảo” và nêu bật thành tích của ông là đã cứu thoát bác sĩ Trần Kim Tuyến – Trùm Mật Vụ của chế độ VNCH – vào lúc Sài Gòn đang trong tình trạng “dầu sôi lửa bỏng” sắp sửa rơi vào vòng tay của bộ đội Cộng Sản Bắc Việt. Những gì đã được viết ra trong quá khứ thì không sai và cũng không có gì “cường điệu” so với sự thật ; nhưng đó chỉ là hình ảnh của “hiện tượng” mà không phải là chi tiết của “bản chất” trong mối liên hệ “kỳ quặc” của “điệp viên nhị trùng Phạm Xuân Ẩn” với ông trùm mật vụ Trần Kim Tuyến !!!

Trực thăng Air America (CIA) đã bốc BS Trần Kim Tuyến ra khỏi Saigon vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975
Cả 2 nhân vật Trần Kim Tuyến và Phạm Xuân Ẩn đều đã qua đời từ lâu, nhưng bác sĩ Trần Kim Tuyến kỳ bí hơn ông Phạm Xuân Ẩn vì bác sĩ Trần Kim Tuyến không để lại bất cứ chứng từ nào về cuộc tham gia chính trị của cá nhân ông, cũng như chưa bao giờ có ký giả nào đến “phỏng vấn” hay quay film về sự nghiệp của ông. Vì vậy tất cả những sự kiện sắp sửa được nêu ra trong bài viết này đều là những “lý đoán”, cho nên độc giả nào đòi hỏi người viết phải đưa ra những văn bản hay hình ảnh để minh họa hay dẫn chứng các sự kiện đã nêu thì người viết xin trả lời chung là “impossible”.
Thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo VNCH, chức vụ chính thức của bác sĩ Trần Kim Tuyến được bổ nhiệm là “Giám Đốc Sở Nghiên Cứu Chính Trị”, tuy nhiên không ai biết lương bổng hay nghi vệ của bác sĩ Tuyến như thế nào, lại càng không biết “trách nhiệm và phận sự” của Sở Nghiên Cứu Chính Trị mà bác sĩ Trần Kim Tuyến là Giám Đốc. Người ta cũng có thể dịch nhóm chữ MẬT VỤ sang tiếng Anh là SECRET SERVICE (có nghĩa là dịch vụ bí mật), tuy nhiên theo thói quen sử dụng của người Mỹ, Secret Service chỉ giới hạn trong việc “bảo vệ các yếu nhân” của Hoa Kỳ. Trong khi đó, về phía người Việt, Mật Vụ có nghĩa là Công An, Lính Kín, Cảnh Sát Đặc Biệt…Trong phạm vi rộng rãi hơn, Mật Vụ cũng có thể là Phản Gián, Tình Báo Xâm Nhập, An Ninh, Đặc Vụ…theo nhận xét của người viết : Sở Nghiên Cứu Chính Trị là tiền thân của Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo thời Đệ nhị Cộng Hòa.
Tôi gọi bác sĩ Trần Kim Tuyến là nhân vật “Kỳ Bí ” bậc nhất của VNCH vì những lý do sau đây :
1. Không ai biết rõ lý do nào bác sĩ Tuyến đã rời Sài Gòn từ 1962 để đi làm Tổng Lãnh Sự tại Cairo (Egypt).
2. Sau 1 tháng 11 năm 1963, cũng không ai biết bác sĩ Tuyến trở lại Sài Gòn vào thời điểm nào.
3. Không thấy bác sĩ Tuyến tham chính hay trở lại làm việc trong môi trường An Ninh -Tình Báo của VNCH.
4. Người ta đồn đoán là bác sĩ Tuyến làm việc “cho” CIA (dễ hiểu là bác sĩ Tuyến không phải là tỉ phú nên phải cần có phương tiện tài chánh để hoạt động) .
5.Việt Cộng có thói quen là bôi bác bêu xấu tất cả những “lãnh đạo của VNCH” với những bài viết có văn phong của những tên viết mướn vô học và thiếu giáo dục, dù những kẻ viết mướn này đã thành danh hay chưa thành danh. Cứ xem những tài liệu mà bọn đàn em của Lê Duẩn và Lê Đức Anh công khai xuất bản để bêu riếu và hạ nhục Đại Tướng Võ Nguyên Giáp thì đủ tỏ bọn Việt Cộng sẽ hạ nhục các cấp lãnh đạo của Việt Nam Cộng Hòa như thế nào. Tuy nhiên tôi không thấy bài viết nào đề cập đến bác sĩ Tuyến, không phải bọn chúng sợ uy lực của ông (VNCH đã sụp đổ thì uy lực bác sĩ Tuyến đâu có còn hiện hữu) mà là vì chúng không có bất cứ tài liệu về ông – dù là những tài liệu của Sở Nghiên Cứu Chính Trị hay của báo chí đề cập đến những thất bại hay thành công của ông !!!
6. Bác Sĩ Tuyến vẫn ở Sài Gòn hoạt động Tình Báo, đã tiếp xúc một cách giới hạn với một số ít nhân vật có ảnh hưởng lớn về mặt quân sự và chính trị, nhưng khi ông rời Sài Gòn vào ngày 29 tháng 4 năm 1975, phía bên Việt Cộng bị “chấn động”. Cũng không ai hiểu tại sao bác sĩ Tuyến lại chọn Anh Quốc (mà không phải là Hoa Kỳ) là nơi cư trú tỵ nạn, và rồi ông sinh sống ra sao cho đến ngày lìa đời khoảng 1999 - 2000 (nghĩa là gần 25 năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975).
Người viết không có tham vọng viết lịch sử hay bình luận về thân thế và sự nghiệp của bác sĩ Trần Kim Tuyến, do đó trong tầm giới hạn của trí nhớ, tôi cố gắng phác họa những dữ kiện rời rạc xuất xứ từ nhiều nguồn gốc khác nhau để độc giả có thể mường tượng ra được những chiến công của chiến sĩ điệp báo Trần Kim Tuyến trong công cuộc đấu tranh gìn giữ sự sống còn của phần đất của người quốc gia trước sự xâm lăng bỉ ổi, trắng trợn và tàn nhẫn của bọn Việt Cộng (được sự yểm trợ toàn diện của Đế Quốc Cộng Sản).
Năm 1959, tại Sài Gòn, học giả Hoàng Văn Chí đã xuất bản quyển sách với tựa đề Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc. Năm 1986, nhà báo Từ Nguyên phỏng vấn cụ Hoàng Văn Chí (bài phỏng vấn này được in trong tập san Tự Do số 50, đề ngày 16 tháng 11 năm 1986 và phát hành tại Bỉ - Belgium ), trích đoạn :…Tôi làm việc một mình. Tôi liên lạc được với một Ủy Viên trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến. Họ đi Hà Nội như đi chợ. Mỗi tuần họ cắp về Sài Gòn cho tôi tất cả báo chí xuất bản ở Hà Nội…” – Hết trích.
Thực ra, cụ Hoàng Văn Chí chỉ nói một phần sự thật, toàn vẹn của sự thật như sau :
1/ Mạng lưới thu thập thông tin tình báo của Sở Nghiên Cứu Chính Trị do bác sĩ Trần Kim Tuyến lãnh đạo đã thu thập tất cả những báo chí xuất bản ở Hà Nội.
2/ Ủy Viên trong Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến là Ấn Độ (có một số nhân viên làm việc cho Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc) – vì vậy họ đi Sài Gòn ra Hà Nội như đi chợ, nhân viên người Ấn Độ chỉ là người chuyển hàng chứ không phải là người đi thu thập sách báo in tại Hà Nội (người Ấn Độ không đọc được tiếng Việt).
3/ Người chuyển các sách báo in tại Hà Nội không giao hàng tại Sài Gòn mà giao hàng tại Rangoon (thủ đô Miến Diện ) khi những người Ấn quá cảnh tại Rangoon trước khi máy bay đáp xuống New Dehli. Nhân viên của Sở Nghiên Cứu Chính Trị làm việc trong Tòa Đại Sứ VNCH tại Rangoon mới chuyển hàng từ Rangoon trở lại Sài Gòn. Nói như cụ Hoàng Văn Chí, hàng giao tại Sài Gòn làm sao tránh được những con mắt dòm ngó của Việt Cộng nằm vùng?
3 điểm mà tôi vừa nêu trên chứng tỏ bác sĩ Trần Kim Tuyến đã làm việc với Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc từ 1955 : chúng ta nhớ lại rằng đích thân Tổng Thống Eisenhower bổ nhiệm Đại Tá Landsdale cầm đầu phái đoàn Tình Báo của Hoa Kỳ đi Sài Gòn vào năm 1953 để dọn đường cho một chính quyền được Mỹ “bảo trợ” nhằm thay thế chính quyền do người Pháp đã và đang “khuynh đảo” chính quyền miền Nam. Ông Landsdale không có tiếp xúc với chính giới miền Bắc và không đặt cơ sở hoạt động của CIA tại miền Trung và miền Bắc Việt Nam. Khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lên nắm chính quyền ngày 25 tháng 6 năm 1954 thì giải pháp chia cắt đất nước đã được bàn tán vì chiến trường Điện Biên Phủ sắp đến hồi kết thúc với sự thắng lợi nghiêng về phía Việt Cộng. Rồi Hiệp Định Đình Chiến giữa Pháp và Việt Minh được ký kết tại Genève ngày 20 tháng 7 năm 1954 với 300 ngày giao thời để nhân dân miền Bắc có quyền lựa chọn “đi vào Nam” hay “ở lại miền Bắc”. Đây chính là khoảng thời gian mà bác sĩ Trần Kim Tuyến cộng tác với Sở Tình Báo Hải Ngoại Anh Quốc để thiết lập “mạng lưới tình báo” nhằm dò la tin tức của Bắc Việt.
Ngay sau khi liên danh John F. Kennedy và Lyndon B. Johnson đắc cử, các chính khách của Hoa Kỳ (bao gồm cả 2 đảng Cộng Hòa và đảng Dân Chủ) đến Sài Gòn đàm đạo với Tổng Thống Ngô Đình Diệm, kín đáo đưa đề nghị Hoa Kỳ đem quân đội trực tiếp chiến đấu tại Việt Nam. Mọi người đều biết là Tổng Thống Ngô Đình Diệm thẳng thừng bác bỏ lời đề nghị này. Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc biết rõ mục tiêu của Hoa Kỳ là dùng quân lực Hoa Kỳ để tiêu diệt tiềm năng chiến tranh của Bắc Việt và cũng biết rõ là Tổng Thống Diệm không cho quân đội Hoa kỳ vào Việt Nam cho nên Hoa Kỳ chắc chắn “đốn bỏ” chướng ngại vật là anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Vì không có thế lực nào cản trở được ý định của Hoa Kỳ, nên Cơ Quan Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc khuyến cáo bác sĩ Tuyến nên “lánh mặt” khỏi Việt Nam vì nếu ở lại Sài Gòn, ở vào vị thế thân cận của ông, chắc chắn bác sĩ Tuyến sẽ bị giết. Đó là lý do, bác sĩ Trần Kim Tuyến xin đi làm Tổng Lãnh Sự tại Cairo và rời Sài Gòn từ 1962 (trước ngày 1 tháng 11 năm 1963 cả hơn một năm trời ).
Sau khi Trung Tướng Nguyễn Khánh mở cuộc “chỉnh lý” vào ngày 31 tháng giêng năm 1964 để đảo chính Tướng Dương Văn Minh, bác sĩ Trần Kim Tuyến trớ lại Sài Gòn và làm việc cho Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc. Đành rằng vì sự quen biết trước, nên bác sĩ Tuyến làm việc cho Cơ Quan Tình Báo Hải Ngoại của Anh, nhưng bác sĩ Tuyến không làm việc cho CIA vì nguyên nhân thầm kín sau đây :
A. Làm việc với CIA thì phải trung thành với CIA, phải tuân thủ những kỷ luật của chef CIA tại Sài Gòn, trong khi làm việc cho Cơ Quan Tình Báo Anh Quốc – dĩ nhiên phải “trung thành” , nhưng bác sĩ Tuyến được toàn quyền hành động – không chịu sự điều động cai quản của chef nào cả (vì Cơ Quan Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc chỉ lấy tin tức chứ không nhúng tay vào các hoạt động chính trị của chính quyền Sài Gòn).
B. Bác sĩ Trần Kim Tuyến muốn bảo vệ mạng lưới thâu nhận tin tức của riêng ông đã gầy dựng từ 1955 ở ngoài Bắc. Họ là những chiến sĩ chống Cộng thật sự, nên họ trung thành với cá nhân của ông. Nếu bác sĩ Tuyến làm việc cho CIA, mạng sống của các chiến sĩ tình báo này (kể cả thân nhân trong gia đình ) có thể bị lâm nguy vì CIA có thể “bán” họ hầu đánh đổi lấy tù binh Mỹ đang bị giam tại Hỏa Lò Hà Nội !!!
http://www.tinmoi.vn/trum-mat-vu-tran-kim-tuyen-da-duoc-cuu…
Tôi đoan chắc bác sĩ Trần Kim Tuyến không làm việc cho CIA vì nếu là nhân viên của CIA, ông và gia đình đã có tên trong “danh sách di tản”. Ngày 29 tháng 4 năm 1975, điệp viên nhị trùng Phạm Xuân Ẩn phải đưa bác sĩ Tuyến lên phi cơ trực thăng của “các nhà báo Mỹ” !!!
Theo như ông Phạm Xuân Ẩn kể lại : sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, bác sĩ Tuyến được một Thiếu Tá - mà bác sĩ Tuyến giới thiệu là người cháu – chở tới Văn Phòng của ông, nhờ ông đưa vào Tòa Lãnh Sự Mỹ để di tản…Tôi nhận thấy có những điểm “bất bình thường” như sau :
1. Bác sĩ Trần Kim Tuyến đến văn phòng ông Phạm Xuân Ẩn chỉ có một mình, có nghĩa là “vợ con và gia đình đã di tản trước “ rồi.
2. Ngày 29 tháng 4 năm 1975 là hạn chót cho người Mỹ di tản. Trong khi đó sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, hải quân VNCH vẫn còn trên sông Sài Gòn và bến Bạch Đằng, Dẫn chứng, qua cuộc điện đàm giữa Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang và Tổng Thống Dương Văn Minh, tướng Cang hỏi Tổng Thống DVM có rời Sài Gòn hay không để ông chờ đón tại bến Bạch Đằng. Tổng Thống DVM nói ông không thể bỏ Sài Gòn được, nhưng xin cho gia đình của con gái và người con rể là Đại Tá Nguyễn Hồng Đài đi theo HQVN rời Sài Gòn. (Đại Tá Nguyễn Hồng Đài hiện ở Pasadena –Nam Cali). Tướng Cang nghe lời đầu hàng của Tổng Thống DVM trên hệ thống phát thanh, ông chỉ thốt ra được 3 chữ THẰNG KHỐN NẠN !!!
Bác sĩ Trần Kim Tuyến có thừa sức di tản bằng các phương tiện khác, nhưng ông đến gặp ông Phạm Xuân Ẩn để “nhờ vả” chỉ để test lại bài toán. Đó là nếu ông Phạm Xuân Ẩn trở mặt và không chịu giúp bác sĩ Tuyến rời khỏi Sài Gòn thì “đao phủ thủ” (là viên Thiếu Tá – mà bác sĩ Tuyến giới thiệu là cháu) sẽ hạ sát “điệp viên nhị trùng” ngay lập tức, rồi sau đó 2 người sẽ xuống tàu rời Sài Gòn ngay. Tuy nhiên, ông Phạm Xuân Ẩn dù đứng khác chiến tuyến, nhưng thông cảm cho “người bạn” đang lâm vào thế kẹt nên ông tận tình giúp. Cũng nhờ vậy, tôi đoan chắc rằng chính lòng trắc ẩn có tình người của ông Phạm Xuân Ẩn đã giúp ông sống còn, nếu không ngày 29 tháng 4 lại là ngày giỗ hàng năm của ông rồi còn đâu!!!
Tôi cũng đoan chắc là khi ông Ẩn lái xe đưa bác sĩ Tuyến đến địa chỉ số 39 đường Gia Long, “đao phủ thủ” vẫn lái xe gắn máy bám sát theo xe của ông Ẩn và chờ đến khi bác sĩ Tuyến lên được chiếc trực thăng, viên Thiếu Tá này mới trở về nhà của mình. Hiện nay chưa một ai xác nhận được lai lịch của vị Thiếu Tá đã chở bác sĩ Tuyến đến văn phòng của ông Ấn.
3. Trước ngày Tổng Thống Thiệu chịu trao quyền cho Tổng Thống Trần Văn Hương, bác sĩ Tuyến đã mưu toan lật đổ Tổng Thống Thiệu, vậy lý do nào ngày 29 tháng 4 năm 1975, bác sĩ Tuyến mới chịu rời Sài Gòn ?. Theo ý kiến của riêng tôi, bác sĩ Tuyến là vị chỉ huy có tinh thần trách nhiệm với thuộc cấp : ông đã dùng uy tín của ông để đưa các nhân viên và gia đình của họ rời khỏi Sài Gòn bằng nhiều phương cách khác nhau. Đồng thời ông cũng xóa các “dấu vết” trong mạng lưới tình báo của ông để Việt Cộng khi kiểm soát toàn thể Sài Gòn không thể mò tìm gây phiền toái và nguy hiểm cho những người vì nhiều lý do không thể rời khỏi Sài Gòn được.
Bên ngành Cảnh Sát Đặc Biệt cũng có trường hợp tương tự : Trung Tá Nguyễn Hữu Hải- nguyên Phụ tá Đặc Biệt của Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Quân Khu 2, khi di tản về tới Sài Gòn thì các tướng Huỳnh Thới Tây, tướng Nguyễn Văn Giàu… đã rời Việt Nam. Nhận thấy Văn Khố của Cảnh Sát Đặc Biệt vẫn còn nguyên, Trung Tá Hải đã ra lệnh tiêu hủy và ông là sĩ quan cao cấp nhất của ngành Cảnh Sát Đặc Biệt đã bàn giao cho Việt Cộng tại Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia trên đường Võ Tánh tại Sài Gòn (Ghi nhớ : Biện Lý Triệu Quốc Mạnh – kẻ nằm vùng của Việt Cộng – được Tổng Thống DVM bổ nhiệm làm Giám Đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành, nằm trên đường Trần Hưng Đạo chớ không phải được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Cảnh Sát nên Triệu Quốc Mạnh không biết gì về Văn Khố của Cảnh Sát Đặc Biệt). Trung Tá Nguyễn Hữu Hải bị Việt Cộng trả thù bằng cách giam giữ ông tới 17 năm, ông ra tù sau tướng Lê Minh Đảo và đưa thẳng sang Hoa Kỳ vào năm 1993 (tội của ông không được ghi trên văn bản nhưng Việt Cộng giam giữ lâu vì ông ra lệnh phá hủy các văn kiện tối mật mà chúng muốn biết).
4. Sau khi bốc Trung Tướng Trần Văn Đôn và bác sĩ Trần Kim Tuyến rời khỏi Sài Gòn, chắc chắn chiếc trực thăng chỉ đủ xăng bay ra Hạm Đội 7, đổi phi cơ trên Hàng Không Mẫu Hạm nhưng tôi không rõ phi cơ chở 2 vị bay sang Thái Lan hay bay vào căn cứ Clark trên đất Philippines, chỉ biết rằng Trung Tướng Trần Văn Đôn thì đến Pháp định cư, còn bác sĩ Tuyến thì đến Anh định cư. Có lẽ Cơ Quan Tình Báo Hải Ngoại của Anh Quốc trả tiền “về hưu” cho bác sĩ Tuyến nên ông dùng số tiền này mua một motel nhỏ để dưỡng già : bác sĩ Tuyến vừa làm manager, vừa làm bồi phòng, vừa làm janitor, vừa đun nước sôi pha trà… cho khách, giống như một cao thủ võ lâm “rửa tay gói kiếm” trong các tiểu thuyết kiếm hiệp của Trung Hoa.
5. Tôn Tử khi viết quyển BINH PHÁP cách nay hơn 2,500 năm , trong chương “Dụng Gián”, ông có phân loại nhiều loại gián điệp mà Tử Gián có nghĩa là Gián Điệp chỉ được dùng có 01 lần duy nhất. Tôi gọi bác sĩ Trần Kim Tuyến là Ông Trùm Hoàn Hảo (như tiêu đề bài viết này) vì sau khi giúp bác sĩ Tuyến rời khỏi Sài Gòn, điệp viên nhị trùng Phạm Xuân Ẩn đã bị bọn lãnh đạo của Việt Cộng nghi ngờ lòng trung thành, chúng vinh thăng cho ông Ẩn từ Đại tá lên Thiếu Tướng Tình Báo nhưng cô lập và không cho tiếp xúc với bất kỳ ai khiến ông bất mãn. Theo như tiết lộ của bà Irina trong tập Bút Ký Irina xuất bản hồi 1992 tại Hoa Kỳ,trước khi Liên Sô sụp đổ, bà Irina sang Việt Nam phỏng vấn ông Ẩn (vì bà là Trưởng Ban Việt Ngữ của đài phát thanh Moscow), ông chua chát nói : “ông chỉ có làm tình và làm báo, chớ ông không có làm tình báo” !!!
Bác sĩ Trần Kim Tuyến đã đẩy điệp viên nhị trùng Phạm Xuân Ẩn trở thành Tử Gián nghĩa là vô hiệu hóa khả năng làm tình báo của ông Ấn sau năm 1975. Bác sĩ Trần Kim Tuyến lìa đời trước ông Phạm Xuân Ẩn chừng non 10 năm, nhưng bác sĩ Tuyến ra đi với tấm lòng thanh thản. Trong khi đó, ông Phạm Xuân Ẩn lìa đời với tấm lòng buồn bực ấm ức, chả thế mà trong di chúc, ông dặn lại con cháu : “sau khi ông chết, xin đừng chôn chung với những người Cộng Sản …”
Đọc Tam Quốc Chí, đoạn nói về Khổng Minh bị Tư Mã Ý bao vây mà trong thành chỉ còn vài trăm quân lính, Khổng Minh liền cho mở cửa thành, ngồi ở cuối đường ngó thẳng vào thành, cầm quạt phe phẩy, vậy mà Tư Mã Ý không dám tiến quân, rồi sau đó cho lui binh. Mao Tôn Cương bàn rằng : …Kế của Khổng Minh thành công vì Khổng Minh biết Tư Mã Ý là người suy tính cẩn thận. Mưu kế ấy sẽ trở nên thất bại nếu người vây thành là Trương Phi hay Hứa Chữ thì không xong vì 2 ông tướng nóng nẩy này cho dù biết có cả vạn binh phục kích đi nữa cũng không care !
Tương tự như vậy, chính vì quá hiểu biết tâm tư + tính tình của bọn lãnh tụ Việt Cộng nên bác sĩ Tuyến mới triệt hạ được khả năng làm “điệp viên hai mang” của ông Phạm Xuân Ẩn.
Xin gửi cả sự TÂM PHỤC lẫn KHẨU PHỤC đến bác sĩ Trần Kim Tuyến về tài năng và trí tuệ tuyệt vời của ông.
San Jose ngày 19 tháng 5 năm 2015
Trần Trung Chính